Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

(3) Văn Khoa - chút tình gửi lại

 

1. Lạ lẫm

Là cô, ngày đầu tiên đến Văn Khoa.

Cô ngơ ngác trước cổng trường và ao ước mình cũng dạn dĩ như mọi người đang vào ra rất ung dung kia. Cô đang chờ một người bạn. Chị ấy hẹn sẽ hướng dẫn cô ghi danh học. Mọi người vẫn ung dung lướt qua trước mắt. Cô cố tạo cho mình nét mặt thản nhiên. Và lại chờ.

Rồi thì mọi việc cũng xong.

Không gì "ghê gớm" lắm như cô nghĩ.

Không ồn ào, chen lấn như bên trường Luật. Chẳng gì thì cô cũng đã phải mất một buổi cật lực chen vào ô cửa nhỏ của phòng ghi danh bên ấy đến mướt mồ hôi kia mà.

Mọi người thân thiện và ân cần. Ấn tượng đầu tiên của cô với ngôi trường này là vậy. Cô cảm nhận điều ấy một cách nhẹ nhàng và nghe như mình đã thành người Văn Khoa.

2. Dấn thân

Cô hòa vào cái không khí mới mẻ ấy với tất cả niềm hồ hởi chân thành. Thi thoảng, khi hướng dẫn cho những người bạn mới nội dung của Cẩm nang Đường vào Văn Khoa, cô chợt nhớ và cười thầm về mình ngày đầu tiên ấy.

Năm học mới bắt đầu. Cô tất bật với việc của nhóm Việt Hán giao cho. Cô cảm thấy hình như mình cũng thành người quan trọng! Cô làm quen với việc tới nhà xuất bản lấy sách về cho các bạn, làm quen cả với việc đánh stencil, quay ronéo ... Và rồi đến một lúc nào đấy, cô thấy mình thực sự gắn bó với Văn Khoa.

Ngày đó, cô không hề nghĩ mình tham gia phong trào sinh viên tranh đấu. Ừ, thực ra cô đã biết gì nào? Cô chỉ thấy cái không khí đó nó hấp dẫn cô, và cô bị cuốn hút vào nó một cách tự nhiên với tất cả sự mê mải của tuổi trẻ. Mấy lần theo chân nhóm xung kích của Tổng Đoàn học sinh đi đốt xe Mỹ ở đoạn đường Phan Đình Phùng ngang chợ Bàn Cờ, tụi cảnh sát đuổi suýt bị bắt, đi biểu tình ở trường Đại học Y Khoa hít lựu đạn cay một bữa ra trò, tuyệt thực trước sân trường bụng đói meo mà vẫn cao tiếng hát cho người cảnh sát anh em nghe rằng "Chiếc dùi cui anh cầm là của người bạn Mỹ, nhưng Việt Nam cơ cầu là quê mình anh ơi", tham gia Đêm không ngủ cùng với các bạn bên trường Nông Lâm Súc ... Cô cảm nhận một điều gì đó. Tất nhiên, các anh chị lãnh đạo phong trào ở trường cũng chẳng nói gì với bọn năm 1 của cô, với "mấy đứa con nít". Sau này, mỗi khi hồi tưởng, cô lại cười thầm mình khi khoe với mọi người về những người bà con Việt Cộng nhân câu hỏi "Bến tre có nhiều Việt Cộng không em?". Có lẽ, các anh chị ấy muốn biết gì thêm nên hỏi vậy khi cô nói về ông chú họ Nguyễn Hoàng Trúc của mình cũng là thủ lĩnh sinh viên bên trường Nông Lâm Súc.

Và gì nữa nhỉ? Mấy chuyến công tác xã hội ở Củ Chi bị tên quận trưởng đem xe jeep "hộ tống" , lần đi Cô nhi viện Diệu Quang ở Phú Lâm suýt bị tóm cả nhóm... Vậy mà cứ phơi phới.

Ngày đó, cô siêng đến trường mà không siêng lên giảng đường. Cô cho phép mình vậy. Bởi thế, anh bạn siêng học đã giật quyển tập mà cô đang tỉ mẩn nắn nót lời bài hát mới học "Ôi Tổ Quốc ta đã nghe lời réo gọi" rồi sửa lại thành "Ôi Thanh Lãng ta đã nghe lời giảng bài" Cô suýt cười phá lên, may mà ngồi ở cuối Giảng đường 1 rộng mênh mông. Hồi ấy, cô tròn mắt thích thú nghe Giáo sư Thanh Lãng kể chuyện ông đã làm thế nào để có được quyển Công việc của người viết tiểu thuyết của nhà văn miền Bắc Nguyễn Đình Thi cho bọn cô học. Miền Bắc ư? Miền Bắc với giảng đường ở ngôi trường Đại học nào mà cô bạn của anh du kích miền Nam đang học? Bài thơ ghi lại câu chuyện cảm động và cả bài Quê hương của nhà thơ Giang Nam khiến cô suy nghĩ. Và cô cũng có cảm giác lạ lắm khi nghe anh nhạc sĩ Tôn Thất Lập hát "Đêm nay đi trên Trường Sơn, ta mơ về Việt Bắc, đi trên Cửu Long mà lòng nhớ Hồng Hà ơi..." Cả những khi ngồi lại với nhau, bạn bè vỗ tay cùng hát "Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay..." hay "Rồi hòa Bình sẽ đến đến cho dân tộc Việt, đôi chim bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa..." cô mơ hồ kết nối những cảm nhận của mình thành một chuỗi, nó chưa định hình một cách rõ ràng lắm, nhưng nó rất lạ, cô biết vậy.

Ngày đó, biết bao chuyện bên ngoài giảng đường lôi cuốn bọn cô: Ban Chấp hành Sinh viên kêu gọi nữ sinh viên mặc áo dài đi học, áp phích dán đầy tường, anh bạn Long chữ đẹp chết danh Long áp phích từ đó. Tuần lễ Văn Hóa Dân Tộc với bao nhiêu là hoạt động. Rồi những ngày Làm đẹp Văn Khoa, mấy cô tiểu thư ngày thường yểu điệu thế mà cũng hăng hái quét dọn ra phết. nhưng có lẽ, cô dành thời gian nhiều nhất cho Hội Quán Văn Khoa. Chả biêt nơi ấy hồi còn là Thành Cộng Hòa, họ làm gì. Chỉ biết là mấy anh con trai Văn Khoa đã phải tốn nhiều công phu quét dọn. Ngày khai trương Hội Quán, vui biết bao nhiêu! Mấy cô nữ sinh viên áo dài tha thướt tíu tít pha cà phê, dọn bánh, ghi phiếu, tính tiền... Chắc là ngon miệng và ngon cả ... mắt nữa nên bọn con trai bên trường Dược cũng lũ lượt kéo sang, chứ bọn họ vốn là dân nhà giàu mà! Không nhớ nỗi hồi ấy, sau mỗi ngày, cô và các bạn ghi lại gì trong Nhật kí Hội Quán nhỉ? Cái "Khung trời Hội Quán" ấy chứng kiến biết bao là chuyện của Người Văn Khoa! Niềm vui và nỗi buồn, nụ cười và nước mắt! Ngày anh Chủ tich Văn Khoa Hạ Đình Nguyên bị bọn cảnh sát lôi ra từ trong hầm nước đá Hội Quán, cô ở trên giảng đường, nghe kể lại rằng Huỳnh Hoa, "Chị chủ Hội Quán" khóc nhiều lắm.

Ngày đó, Đêm Kỉ Niệm Hai Bà Trưng và phát giải thi thơ Chiếc áo dài Việt Nam diễn ra thật trọng thể. Bên ngoài, lễ dâng hương trước ảnh Hai Bà hiện lên trên tấm phông màn nghiêm trang bao nhiêu thì đàng sau sân khấu, Song Nguyên, anh bạn tác giả của màn trình diễn ấy cũng căng thẳng bấy nhiêu bởi cô bạn sắm vai Trưng Nhị đang mỏi rụng tay vì phải giương kiếm quá lâu. May mà có bạn nhanh trí lấy cây giáo chống vào khuỷu tay, không thôi chả biết chuyện oái oăm gì sẽ xảy ra nhỉ?

Ngày đó, cô cũng không nghĩ mình sẽ gắn bó với Văn Khoa đến vậy.

Và ngày đó, cô cũng không nghĩ là sẽ gắn bó với Người Văn Khoa đến vậy

Bao nhiêu là bạn bè thân thiết: này là Trân Thúy với biệt danh"công chúa nhỏng nhẽo", chăm như cô trò nhỏ trung học cứ hay hỏi sao cô không lên giảng đường? Này là Đoàn Trang cũng hay phàn nàn cô như thế. Cô bạn cùng nhà trọ người xứ biển Nha Trang còn hăm không cho cô mượn bài giảng. Đâu khoảng mười năm trước, Đoàn Trang đã lẳng lặng mang trái tim mong manh của mình đi xa mãi rồi. Lần ra Nha Trang dự một hội nghị chuyên môn, cô mới có dịp đến nhà Thùy Trang, chị song sinh của Đoàn Trang để thắp cho bạn mình nén nhang và nghe kể đôi điều. Này là Hoàng Hương, cô gái Sài Gòn ngoan hiền và đảm đang rất mực không vắng buổi Làm đẹp Văn Khoa nào. Này là Kim Liên ngổ ngáo như con trai lại sở hữu một nét chữ tròn trĩnh dễ thương với màu mực tím độc đáo. Này là Hoa Nhụy, cô bạn Rạch Giá tóc dài mủm mỉm dễ thương... Anh Lê Văn Nghĩa - Nhà thơ Đôi nạng xứ Dừa với anh Lâm Bá Phát bảo khi nào ra tập san Văn Khoa sẽ dành "cho mấy đứa một trang Tuổi Hoa" ... Vẫn nhớ "em gái Văn Khoa" Hồng Nga nhiệt tình, xông xáo, chưa thấy mặt đã nghe tiếng cười giòn.Thúy Liễu thì nghiêm nghị lắm, giống như chị Ngô Ngọc Dung bên Nhóm Nhân Văn, cứ mỗi khi nghe chị gọi" Nè cưng, có rảnh không, chị nói cái này chút" là giật mình ngẫm nghĩ lại coi mình có làm gì trật không.

Rồi mấy anh con trai Văn Khoa: Võ Đình Nghĩa, anh bạn miển Trung lành như đất đen thui cao lêu nghêu lại hay đi cùng Huỳnh Ngọc Hội (*) trắng trẻo tròn trịa. Trần Xuân Tiến thì nổi đình nổi đám với giọng nam cao đặc biêt hay hát cho bạn bè nghe bài hát của mình "Em sẽ hái hoa cho chị cho anh cắm lên trời Tổ Quốc, em sẽ tưới xanh xanh ruộng xanh hoa xanh nỗi nhọc nhằn trên quê hương mình..." Anh bạn đồng hương Song Nguyên tuy ở bên Sư Phạm nhiều hơn nhưng hễ thấy người là nghe tiếng cười khà khà hào sảng. Còn Trương Tấn Nghiệp thì có vẻ nghiêm nghị hơn, anh chàng coi mình là người quan trọng đấy, chẳng là Nghiệp phụ trách Thanh Lao Công mà, cảnh sát hay theo dõi lắm. Và bạn bè cũng đã phải đưa Nghiệp chuyến đi cuối trong đời rồi. Không biết sao mà những bạn bè lên xanh năm 72 ai cũng mắc phải ung thư cả? Song Nguyên kể, những ngày nằm bệnh, Nghiệp vẫn ân hận chưa mua được cho vợ chiếc bàn trang điểm! Mặc dù chuyện đó có là gì so với chức Phó tổng giám đốc một cty nhất nhì thành phố đâu!

Bạn bè thân thiết năm 1 của cô ngày xưa đó.

Một năm Văn Khoa trôi đi như cơn gió lạ. Năm hai, cô nghĩ là mình phải học nhiều hơn thôi. Không phải vì anh bạn Khoa Học về méc má cô là cô lo đi biểu tình hơn là đi học. Viết thư cho cô, anh bảo " Em chỉ là con chốt trên bàn cờ cho người ta lợi dụng..." Cô giận anh lắm rồi, cô học cho mà xem.

3. Chia xa

Vậy mà cũng chia xa.

Lâu lắm về sau, cô vẫn còn ngỡ ngàng như không nghĩ ra được vì sao mình lại rời văn Khoa đột ngột thế. Năm học mới bắt đầu không lâu.

"Cho rồi một chuyện ngày xanh, cho qua hờn dỗi cho đành lãng quên" ư? Cô không nghĩ thế nhưng có lẽ cô buộc mình nghĩ thế.

Hội Tết Văn Khoa năm sau, cô về lại trường, nửa như người xa lạ tuy vẫn không khí ấy, bạn bè ấy. Trong Đại Giảng đường đang tiết mục Võ Thị Sáu, tiếng lựu đạn của người con gái Đất Đỏ trên sân khấu đã làm tụi cảnh sát ngoài đường nhốn nháo. Đêm cuối năm tối mịt, cuộc đuổi bắt gữa cảnh sát và sinh viên trong những con hẽm nhỏ của xóm lao động khu Thị Nghè trở nên khó khăn. Đêm, trong căn nhà trọ của các bạn bên bờ kênh Nhiêu Lộc, cô trăn trở. Ngoài hiên, gió nhiều quá...

Hình như mình đã trở thành người xa lạ thật rồi. Cô nghĩ thế trên chuyến xe đò trở lại miền Tây sáng hôm sau.

4. Đoái trông

Và cả sau này nữa, trong ầm ào bom đạn của mùa hè đỏ lửa 72, trong những đêm đồng bằng thanh vắng chợt rộ lên tiếng súng đâu đó bên ngoài ấp chiến lược, trong những giờ lũ trò nhỏ cặm cụi làm bài, cô miên man nhớ về ngôi trường và bè bạn. Trong những cánh thư bất chợt nhận được, cô tìm thấy những tin nhắn ẩn dấu, chuyện của Người Văn Khoa xáo động tâm trí cô. Tan tác, chia lìa, người vào chiến khu, người bị bắt, người bặt tin ... nhưng đâu đó trong mơ hồ, cô nghĩ về một ngày gặp gỡ. Cô vin vào một niềm tin từ câu nói "Đừng lo, rồi sẽ có một ngày chúng ta trở về xây dựng lại văn Khoa"

5. Gặp lại

Ngày Giải phóng,

Những người bà con Việt Cộng trở về.

Lần đầu tiên, cô mới biết rõ ràng hơn, cụ thể hơn về Người Văn Khoa ngày ấy. Thì ra, toàn là Việt Cộng không. Ừ, sao mà cô lại không nghĩ ra nhỉ? Mấy lần đi trại Vũng Tàu, bọn cô đã mè nheo khi tưởng mấy anh chị lớn xé lẻ đi chơi riêng với nhau. Hay lần Ni sư Huỳnh Liên cho xe chở bọn cô về khi cảnh sát giăng kín ngõ vào Tịnh xá ngọc Phương... Cô nghĩ nhiều đến ngày gặp lại.

Trong dòng chảy tất bật của những tháng ngày sau Hòa Bình, cô bị cuốn vào biết bao công việc của ngôi trường nhỏ xa lắc xa lơ tận miền Tây. Thảng hoặc, trong những bản tin trên đài, trên báo, những tên tuổi quen thuộc ngày xưa được nhắc tới gợi bao náo nức trong lòng. Chao ơi, Văn Khoa của cô! Người văn Khoa của cô! Bạn bè thân thương của cô!
Người đầu tiên gặp lại sớm nhất và cũng bất ngờ nhất là Trân Thúy, cô "công chúa nhỏng nhẽo" ngày xưa đang hạnh phúc vô bờ với cậu con trai đầu lòng mang tên Toàn Thắng! Hóa ra gần nhau lắm. Hai đứa ở hai bên ờ sông Tiền mà cô cứ tưởng! Rồi Hoàng Hương, Xuân Hương, Minh An , Thúy Liễu,Thanh Quế... Và cả chị Kim Tuyến nữa, người chị lớn của Văn Khoa ngày đó, người mà cô đã tựa vai khóc thật nhiều trong cái đêm trăng sáng hồi đi trại Vũng Tàu năm xưa. Chị vẫn vậy, ân cần và nhỏ nhẹ, thân nhưng nghiêm lắm. Và ngày xưa, cô sợ chị nhất.

Như không có khoảng thời gian hơn ba mươi năm chia xa. Bạn bè thân thường ngày xưa vẫn vậy, ân cần và thân thiện. Những lần họp mặt mang về cái không khí ngày xưa.

Những người muốn gặp thì đã gặp! Buồn vui lẫn lộn. "Vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng" , nhưng cũng có nỗi buồn và có cả những ngậm ngùi. Những gì đẹp đẽ của một thời vừa như vẫn còn đó vừa như thoắt trôi xa, vừa nặng như một khối u tình lại vừa trong veo lung linh như một giọt sương mai.

Đó có phải là nguyên nhân làm bận lòng?

6. Và, gửi lại

Văn Khoa ơi,

Người văn Khoa ơi

Chút tình xin gửi lại.

12-2004  Thu Nhân

Đọc tiếp ...

(2) Hơn ba mươi năm vẫn nhớ

Tôi ghi danh ở Đại học Văn Khoa như một sự…lỡ làng.

Ở thời điểm đó, chính tôi cũng không biết mình muốn gì, thích gì??? Sau khi học xong Đệ Nhất, các bạn trai thì sợ bị bắt quân dịch, còn tôi, lúc đó, tôi sợ cái gì nhỉ? Tôi sợ gia đình bắt đi du học, tôi nghĩ đơn giản rằng: làm sao mà xa bà nội, xa ba má, làm sao mà xa những con đường, góc phố hằng ngày tôi vẫn đi qua, và phải rời xa căn nhà thân thương của tôi sao? Tôi không sao hình dung, tưởng tượng được một cuộc sống ở một nơi không có người thân. Cuối cùng tôi đành năn nỉ bà nội, nhờ bà “can thiệp”, và rồi, bộ hồ sơ ở Nha Du Học của tôi xem như bị hủy bỏ. Tôi được ở lại Việt Nam. Đậu tú tài ban C (ban văn chương) mà lại “mon men” thi vào Y khoa thì “bảng vàng không đề tên” là điều chắc chắn. Khi biết kết quả, tôi đã nằm trong phòng một ngày để khóc cho lần thất bại đầu tiên trong cuộc đời. Và ngay lúc đó, tôi cũng không biết sẽ học cái gì nhưng học một năm nữa để thi lại thì nhất định tôi không chịu vì từ xưa đến nay tôi chưa bao giờ thi rớt!

        Rồi cũng theo ý của gia đình, tôi ghi danh học ban văn chương ở Văn Khoa cho phù hợp với cái bằng tú tài văn chương của mình. Vẫn còn sức, vẫn chưa hết thời gian nên tôi ghi danh thêm Đại học Luật. Thế là ngày hai buổi tôi chạy từ trường này sang trường kia. Giảng đường Văn Khoa rộng thênh thang nhưng khỏi giành chỗ, trường Luật thì, ôi thôi, đi giành chỗ chứ nào phải đi học! Nhưng vào đến giảng đường, vốn nghiêm túc trong học tập nên tôi vẫn ghi ghi, chép chép và nghĩ rằng: học Đại học đâu có gì vui! Tuy nhiên tôi cũng không nuối tiếc lắm thời trung học vì thật ra, ngày đó hình như tôi cũng không có bạn thân. Tôi ra khỏi cổng trường thì đã có ba tôi chờ sẵn, cũng có những buổi tôi thong thả đi bộ đến trường ba tôi dạy, chờ ba tôi để được đưa về. Tôi chỉ biết học và học. Tôi chưa có người yêu nên cũng chẳng có những phút giây mơ mộng ngòai sách vở!

        Cho đến một ngày, tôi tình cờ - mà cũng có thể xem đó như một định mệnh - tôi đến xem triển lãm ở Văn Khoa. Trước mắt tôi là những hình ảnh Mỹ tàn sát trẻ em Việt Nam ở Mỹ Lai, là chiếc xe tăng cán lên thân người…và biết bao hình ảnh khác nữa. Đêm về không ngủ được, không phải tôi sợ mà là ngỡ ngàng trước một sự thật và tôi vẫn biết đó là sự thật. Từ trước đến nay, ba má tôi không nói cho tôi nghe những điều này, tôi xem tivi cũng không thấy. Sao tôi có thể vô tâm đến như vậy? Hôm sau, tôi trở lại phòng triển lãm, cũng không biết để làm gì. Ở một góc phòng, tôi thấy có mấy chị ngồi làm hoa hồng bằng giấy màu đỏ. Tò mò tôi đến xem, rồi tôi cũng làm được, tuy không khéo léo, không nhanh tay như các chị nhưng tôi rất tự hào, mình cũng biết làm hoa giấy!

Và tôi cũng không nhớ rõ, từ ngày tháng năm nào, ngòai những giờ học, tôi đã đến với các chị, với Hội Nữ SV Văn Khoa, thuộc những câu thơ:

“Hoa hồng cài áo em xinh

Cài duyên cho thắm, điểm tình cho xanh

Chút duyên khoan gởi về anh

Để em cùng chị xây thành nước non

Bao giờ thống nhất giang sơn

Vui trong tình nước, chứa chan tình nhà”

 Hết năm thứ nhất, tôi được chị T. bảo chuyển sang học Nhân Văn để ứng cử vào ban Đại diện, tôi chuyển ngay, không một chút do dự. Và bắt đầu “làm việc” ở căn nhà tole sau gốc cấy điệp. Ít đến nhóm Việt Hán hơn nhưng tình cảm dành cho Việt Hán thì vẫn không vơi bớt. Lúc đó, tôi không thể lường trước được hậu quả tai hại của sự chuyển đổi này. Vì sau ngày giải phóng, tôi chuyển về tỉnh, đang là GV cấp 3, tôi nhận được quyết định lương mới của Sở Giáo dục để “trở thành” GV cấp 2 với lý do: học ban Nhân văn là học Triết duy tâm nên không thể được kể là GV cấp 3 và dĩ nhiên cũng không thể tiếp tục dạy cấp 3! Tôi không “thông” được chủ trương quái lạ này và cũng không sao giải thích được những điều tôi đã được học ở Văn Khoa, chỉ lặng yên chấp hành. Đồng lương GV vốn đã eo hẹp, nay còn bị sụt lương, con còn nhỏ, không có sức khỏe để cải thiện kinh tế gia đình, tôi bỗng ngậm ngùi: có những quyết định không tính tóan mà giờ đây cũng bị “buộc tội”, tôi nên khóc hay cười đây??? Nhiều năm sau đó, tôi đành phải học Đại học Sư phạm hệ tại chức và khi tốt nghiệp mới được xếp thang lương khởi điểm của GV cấp 3, mặc dù lúc đó, tôi đã có hơn 10 năm trong nghề! Đó cũng là kỷ niệm của một thời để nhớ!

 Những ngày tháng buồn vui ở Văn Khoa cứ thế mà nối tiếp, cười nhiều mà cũng không ít lần trào nước mắt! Thấy mấy anh bị bắt thì khóc, khóc vì lựu đạn cay, mặc quần tây đi học, thay cho chiếc áo dài quen thuộc, bị nhắc nhở: dạo này nữ SV ăn mặc thỏai mái quá, cũng khóc! Lúc đó, không ai biết, ngày nào tôi cũng đến bệnh viện nuôi má, tôi cũng hiểu má không còn sống bao nhiêu ngày nữa…Tôi khóc vì tủi thân, vì ức lòng, nhưng không bỏ phong trào, bởi vì, lúc ấy, tất cả đã trở thành máu thịt của tôi. Khi tôi chưa kịp hiểu rõ cách mạng là gì, ai là người cách mạng, nếu vào tù, phải giữ khí tiết như thế nào thì tôi đã bị bắt, đúng vào ngày 19-5 (mãi sau này, tôi mới biết đó là ngày sinh nhật của Bác Hồ). Giữ khí tiết khi ở tù là gì nhỉ? Chưa một lần tôi được nghe giải thích nhưng các anh chị trong phong trào cứ lần lượt vào tù. Từ phòng giam ở Cảnh sát quận nhất rồi Nha Đô Thành, tôi đều nghe tiếng người la khóc vì bị tra tấn. Dáng của N (Thanh lao công), cao to nhưng không đi nổi vì bị đánh quá nhiều.

Nằm ở hành lang để chờ những buổi thẩm vấn vào nửa khuya, tôi nghe tiếng các bạn hát, đọc thơ…trong phòng giam. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ một giọng đọc rất nhẹ nhàng, truyền cảm: “Nghe em vào đại học…Nửa tin, nửa ngờ, tên lại trùng tên…”. Sau này, tôi mới biết đó là giọng của HNH và người đứng lên vai người khác để đưa cho tôi ly nước chanh nghĩa tình chính là LNE. Và tôi hiểu, tất cả đều là bạn bè, anh em, vì thế, không thể làm điều gì để hại bạn hay đơn giản hơn, là đừng để có thêm những bạn bè khác cũng vào tù. Lúc đó, tôi cũng chưa quen nghe từ “đồng chí”, cũng chưa biết tôi có được ai xem là đồng chí không? Chỉ có điều đáng buồn là, sau này, khi tôi hiểu rõ ý nghĩa thiêng liêng của hai từ ấy thì đôi khi, tôi lại không được đối xử như những người anh em chứ chưa dám nói là  đồng chí!

 Thời gian ngắn ngủi ở Nha Đô Thành chưa đủ để tôi “lớn nổi thành người” nhưng lúc tôi trở về với Văn Khoa thì trường chẳng còn ai, tôi tiếp tục “làm cách mạng” theo cách hiểu của riêng mình. Mãi đến khi bắt liên lạc được với anh K, tôi và chị HD được đổi bí danh và chuyển sang công tác khác. Lần đầu tiên, chúng tôi được vào vùng giải phóng, có giao liên đưa đi. Thế ra đây chính là “miền đông gian lao mà anh dũng”. Thấy anh K, mặc bộ đồ bà ba đen, có quấn khăn rằn, tôi chợt nghĩ vẫn là anh của những ngày ở Văn Khoa với cái nhìn nghiêm khắc mà cô tiểu thơ trong tôi lúc nào cũng e dè vì sợ bị “rầy rà” là tiểu tư sản. Té ra Việt Cộng cũng đễ thương chứ đâu có dễ sợ! Bao nhiêu năm qua rồi, tôi vẫn nhớ như in câu chào của anh khi anh bước ra từ trong đám lau sậy, thấy tôi và chị HD: “Chào hai cô em Phù Đổng!”, vì lúc đó, chúng tôi định tham gia viết bài cho tờ báo này của chị Kim Cương. Từ chỗ đón chúng tôi, ba anh em cứ vừa đi, vừa nói chuyện, nghe chim hót, nghe tiếng suối chảy róc rách…Anh đưa thuốc ngừa sốt rét cho chúng tôi uống và căn dặn đừng uống nước suối. Tôi không dám cãi nhưng cứ nghĩ rằng, nước suối uống chắc là ngọt lắm, mát lắm vì tôi chưa bao giờ được uống! Câu chuyện cứ từ đề tài này sang đề tài khác, vẫn chưa thấy giao nhiệm vụ, mà thật ra, lúc ấy, tôi chỉ muốn kể, muốn tâm tình để anh hiểu những điều tôi còn băn khoăn khi phải làm và quyết định những việc mà bản thân tôi, cũng không biết là đúng hay sai. Cứ líu lo như thế, đến nỗi lâu lâu anh phải nhắc: “Em nói hết chưa?”. Bữa cơm ở rừng đối với hai cô tiểu thư cũng ngon tuyệt với món canh chua thịt gà nấu lá dang. Vậy mà người ta “đồn” Việt Cộng ăn uống cực khổ lắm!

Đến tối, tôi hơi lo nhưng không dám hỏi là chúng tôi sẽ ngủ ở đâu khi chỉ có một chiếc giường cá nhân của anh? Hay là phải thức để nghe “nhiệm vụ” hay học nghị quyết gì đó. Tôi đã hiểu nghị quyết là gì đâu! Cuối cùng anh đã mắc võng và ngủ trên đó, tôi và chị HD được ngủ trên “giường”! Đêm cũng ngắn vì chúng tôi đã thức rất khuya với những câu chuyện nối tiếp, có khi không đầu, không cuối. Tôi nhớ hình như tôi có than: “mỗi lần nhận thư của anh, em mừng mà cũng rầu vì phải giải mã, cực quá!”. Tôi và chị HD đều được “chuyển công tác”, nhóm từ này cũng lạ lẫm với chúng tôi.

          Buổi sáng trong cứ thật tuyệt vời, thật trong lành và lại có thêm một kỷ niệm khó quên. Anh bảo chúng tôi đi theo anh và cầm theo cây cuốc! Tôi thắc mắc vô cùng, không lẽ mình phải cuốc đất trồng khoai?! Sau đó mới hiểu giá trị của cái toilet thiên nhiên này! Dĩ nhiên, hai chị em đều rất lung túng khi…sử dụng!

         Chia tay, anh “giao” chúng tôi lại cho cô giao liên, quyến luyến, muốn được ở lại thêm vài ngày mà không hề biết anh K đang lo cho sự an toàn của chúng tôi trong chặng đường về. Tôi nghĩ là mình không gặp khó khăn khi nhận nhiệm vụ mới, chỉ hơi buồn vì phải xa ông anh cả, tôi rất sợ mà cũng vô cùng thương quí.

         Những ngày sắp giải phóng SG, tôi gặp chị T (người phụ trách mới của tôi) ngay tại nhà tôi, giữa lòng thành phố. Chị vẫn mặc áo dài, đĩnh đạc như xưa, chỉ khác là có đeo kính mát. Tôi ngạc nhiên, nhưng không có thời gian để hỏi xem chị về thành từ bao giờ, và tôi bắt đầu nhận nhiệm vụ từ chị, vui hơn, phấn khởi hơn vì biết ngày giải phóng đã đến gần.

         Rồi ngày giải phóng cũng đến, ai đó đã nói: “Nước mắt dành cho ngày gặp lại”, với tôi, những giọt nước mắt ấy là niềm vui đoàn tụ và cũng là mãi mãi chia xa, là nỗi ngậm ngùi không thể chia sẻ cùng ai. Tôi lao vào công việc của Hội Nhà Giáo, hào hứng như thuở mới đến Văn Khoa, cũng ít có dịp gặp lại các bạn, và cũng có những điều chưa kịp nói, những câu chuyện chưa kịp kế. Đến tháng 9 - 75, tôi theo chồng, về tỉnh lẻ, bỏ lại thành phố thân thương của thời ấu thơ, của những ngày xuống đường cùng bạn bè, cùng dùi cui, ma trắc, lựu đạn cay…Tôi không buồn lắm vì nghĩ rằng, đất nước thống nhất rồi, hòa bình rồi thì ở đâu cũng là đồng chí, anh em. Hơn nữa, tôi bây giờ đã khôn lớn, vững vàng hơn.

 Thế nhưng, sự đời không như tôi nghĩ. Khi viết về một thời đáng nhớ mà không phải ai cũng có, tôi không muốn nhắc lại những đau buồn khiến tôi đã đôi lần nhụt chí, muốn buông xuôi tất cả. Chỉ biết rằng  chính khoảng thời gian qua đi không bao giờ trở lại của những năm 70 đã cho tôi niềm tin và sức mạnh để sống trong sạch cho đến khi tôi viết những dòng này.

 Mãi đến năm 76 khi tôi được giới thiệu vào Đoàn thì cũng có người thắc mắc, tại sao chưa là Hội viên mà đã kết nạp Đoàn? Tôi vô tư không hiểu rằng người ta còn yêu cầu tôi phải trình thẻ Hội viên thì mới tin là tôi đã được kết nạp vào Hội từ năm 72! Những năm đó, những năm mà người giới thiệu chỉ cần hỏi tôi: “Em có sợ Việt Cộng không?” và tôi trả lời: “Không, em không sợ vì người ta cũng là người như mình thôi” là xem như tôi đã được kết nạp, tôi không được ai phát thẻ cả. À không, khi trả lời xong câu hỏi, “nghe cũng được”, tôi còn phải tự đặt cho tôi một bí danh nữa chứ! Chưa hiểu bí danh là gì đâu nhưng tôi cũng nghĩ ra ngay một bí danh rất “tiểu tư sản” để báo ngay. Thế là đã xong, tôi đã được công nhận là người cách mạng để rồi, 3 năm sau đó, khi đất nước đã giải phóng, tôi lại xuất hiện như một “quái nhân”, chưa là hội viên thì không thể là Đoàn viên!!! Tôi chỉ còn biết nhớ lại những ngày tháng ở Văn Khoa để tự khẳng định mình và để vui vẻ hằng ngày đến trường, dạy học và tham gia tất cả các phong trào của trường như một Hội viên tích cực. Tôi không có điều kiện gặp lại bạn bè dù chỉ cách xa nhau chưa đầy trăm cây số mà sao dịu vợi, thăm thẳm như nỗi buồn của người xa xứ, của kẻ bị bỏ rơi!

 Trong cuộc sống vợ chồng, không thể không có những chông gai làm vướng chân, những trăn trở về những điều được - mất. Trong nhiều lần cảm thấy mình đuối sức, tôi đã nhớ lại, buổi tối cắm trại ở một ngôi chùa ở Thủ Đức, khi ăn cơm xong, tôi ra con rạch nhỏ để rửa chén và ngắm ánh trăng vụn vỡ trên mặt nước. Cô gái thành phố đang đắm say cùng thiên nhiên bỗng giật mình với nụ hôn của ai đó…vội vàng mà vẫn đằm thắm:  “Thương anh không?”. Tôi hốt hoảng đến không trả lời được, chỉ biết ánh trăng bỗng sáng hơn để nhìn thấy mặt cô gái sáng hơn trăng vì e thẹn. Sau này, khi nghe câu hát: “Đôi ta yêu nhau có vầng trăng làm chứng”, tôi nhớ mãi chuyện năm xưa.

          Tháng 12 năm 1774, ngày cưới của tôi, có công an chìm canh ở cửa nhà xem chúng tôi làm lễ tuyên bố hay đám cưới, ba tôi phải cho tiền thì “hai anh bạn” mới chịu đi. Đúng vào dịp Noel nên phòng khách nhà tôi được trang trí bằng ngôi sao vàng năm cánh. Không có ai đại diện cho tổ chức của đàng trai và gái, chỉ có chị của tôi. Mãi đến lúc chị bắt tôi chuẩn bị buổi tối đó, tôi mới hiểu chị cũng là người cách mạng! Chúng tôi không thề trước lá cờ đỏ sao vàng nhưng với ánh sáng của ngôi sao Thiên Chúa, anh cũng đã hứa suốt đời sẽ mang lại hạnh phúc cho tôi. Và chúng tôi đã mở gói quà được gửi từ nhà giam Tân Hiệp, đó là cặp áo gối màu trắng được may bằng tay rất công phu, có hàng chữ nổi màu xanh: “Tương lai tươi sáng” của chị D thêu. Sau biết bao thăng trầm của cuộc đời, tôi vẫn giữ cặp áo gối đó, hạnh phúc hay khổ đau thì tôi vẫn luôn nghĩ về một “tương lai tươi sáng”. Hạnh phúc luôn ở quanh ta, thật gần nhưng có khi cũng…thật xa. Tôi không biết mình có được hạnh phúc như lời người đã hứa, như ước nguyện của tôi khi cùng anh gắn kết hai cuộc đời nhưng tôi luôn biết rằng cạnh bên tôi, vẫn luôn có bạn bè, những người đã giúp tôi hiểu tôi phải sống làm người như thế nào, và dĩ nhiên, trong đó cũng có cả anh nữa.

Người ta không thể chỉ sống mãi với kỷ niệm mà không biết mình đang là ai và đang ở đâu. Tôi cũng vậy, mỗi lần họp mặt, chia tay rồi lại nhớ, lại thương, ngày xưa sao mình vô tư đến vậy và giờ đây, vì những toan tính đời thường đến đôi khi trở thành “trần trụi” mà đành phải nuốt nuớc mắt vào trong. Thôi thì, ai cũng có “một thời để yêu và để nhớ”. Tôi đã yêu say đắm,  không hối tiếc, không ân hận vì tôi đã chọn cho mình một con đường đi đúng đắn mà để đến đích, mỗi người lại có cách đi khác nhau. Tôi  thật sự cảm thấy ấm lòng khi các bạn vẫn không thể quên một thời đáng nhớ để trong cuộc  đời, còn có thể kể cho con cháu về những người đã làm cách mạng từ khi chưa biết rõ cách mạng là gì và đến khi không được xem là đồng chí, anh em, vẫn chỉ sống vì điều đã chọn lựa, thủy chung, son sắt.

Hạnh phúc ấy tuy không lớn lao nhưng là điều vô giá. 

                                              2005 -TrầnĐỗQuyên

Đọc tiếp ...

(1) NHỚ… VĂN KHOA

 

 

        Năm 1971 tôi bắt đầu vào Đại học, tôi ghi danh Đại học Văn khoa với mục đích học một năm dự bị để thi vào Đại học Sư phạm. Trường Văn khoa lúc đó dưới mắt cô học trò Tú tài 18 tuổi như tôi là một ngôi trường rộng lớn với những giảng đường mênh mông so với lớp học ở trường nữ trung học, cùng với những cầu thang gỗ cũ xưa và những hành lang dài rộng mà bất cứ lúc nào cũng thấy có sinh viên đi lại hoặc tụ tập thành từng nhóm, điều không bao giờ thấy ở trường trung học. Rồi đến giờ giấc học thì thật tuyệt vời đối với tôi, bởi vì thành phố Sài Gòn những năm tháng sau Mậu Thân đã chạm mặt ít nhiều với chiến tranh, đường phố đầy bóng dáng cảnh sát thường, cảnh sát dã chiến, cảnh sát chìm…, xe nhà binh chạy rầm rập và cố vấn Mỹ cũng đầy ngoài đường, cho nên suốt những năm là học sinh trung học, tôi luôn được đưa đến trường lúc 6.30 sáng, trở về nhà lúc 11.30, ít được đi đâu ngoài con đường từ nhà đến trường và ngược lại. Cho nên khi vào đại học, cảm tưởng đầu tiên của tôi là… sự tự do, giờ học ở Đại học hoàn toàn khác trường trung học, những ngày đầu tiên tôi sung sướng ngồi xe buýt đến trường có khi vào 9 giờ sáng và có lúc về đến nhà thì thành phố đã lên đèn. Nhưng chỉ 1 tháng sau niềm vui của tôi tắt ngấm vì… buồn quá, vài đứa bạn ở trung học cùng ghi danh Văn khoa thì lại khác môn nên cũng khác giờ học, tôi cảm thấy lạc lõng ở đây, sinh viên thì không cần mặc đồng phục, có áo dài, có mini jupe, có quần Jean và dĩ nhiên có những bộ đồ hippy khá bụi bặm. Giáo sư lên lớp mặc áo vét, đeo cà vạt, giảng đường rộng, giáo sư giảng bài bằng micro, nhìn xuống sinh viên ngồi bên dưới mà không cần biết có bao nhiêu người, không điểm danh và không phải trả bài hàng ngày, cũng không có chỗ ngồi cố định, có những buổi tôi đến trễ vì chờ xe buýt nên không còn chổ trong giảng đường thì kéo ghế ngồi ở hành lang gần cửa sổ, không còn lo sợ bị thầy la mắng nhắc nhở như khi còn học trung học, không phải lo lắng vì bài vỡ hàng ngày, nhưng chưa có bạn thân làm tôi cảm thấy buồn và cô đơn khi đi học ở đây.

        Có một ngày sau khi học xong một môn ở trường Luật tôi chạy về Văn khoa, lên lớp nhưng không còn chổ ngồi, hành lang cũng đã có nhiều bạn ngồi bên ngoài, và thật tình tôi cũng đã vắng môn học này vài buổi trước, đành phải đi kiếm cour để học thôi, thế là tôi bắt đầu làm quen với phòng Đại diện sinh viên ban Sử  Địa, đó là một căn phòng nhỏ gần Hội quán Sinh viên, tôi nhận ra ở đó vài gương mặt quen quen thường gặp trên giảng đường, tôi mua cour rồi quen dần với căn phòng nhỏ đó, đã vài lần ngồi phụ đánh máy bài giảng trên giấy stencil để đưa đi quay ronéo khi phòng Ban đại diện thiếu người mà cour thì cần phát hành gấp. Tôi bắt đầu thấy hết lạc lõng ở trường Đại học, khi hết giờ học hay khi rảnh rỗi tôi lại chạy đến căn phòng nhỏ đó, tôi đã có những người bạn cùng tuổi và làm quen được với các anh chị học lớp trên. Thời gian đó tôi mặc áo dài đi học vì những chiếc áo dài trắng thời trung học vẫn còn, ngoài ra cũng rất thích vì có thể mặc cả áo dài màu mà trước đây chỉ có thể mặc vào dịp lễ Tết. Lúc đó trường Văn khoa đang có phong trào cổ động nữ sinh viên đi học mặc áo dài để giữ lại truyền thống chiếc áo dài Việt Nam trước làn sóng mặc mini jupe và phong trào hippy với các kiểu ăn mặc lôi thôi bụi bặm. Thế là với chiếc áo dài mặc đi học, tôi được mời vào Hội Nữ sinh viên Văn khoa, ở đây ngoài những bạn năm thứ 1 ở tất cả các khoa còn  có những chị lớn học năm thứ 2, năm thứ 3 rất dễ thương , và thế là tôi lại biết thêm các Ban Việt Hán, Nhân văn, triết, Anh văn…Tôi dự buổi họp mặt đầu tiên với Hội Nữ sinh viên tại một nơi gọi là Hội quán Văn khoa, và tôi đã bị chinh phục để trở thành người của Hội quán.

        Đang ở một đô thị trong giai đoạn chiến tranh mà nhà náo biết nhà đó, mỗi cá nhân tự lực cho sự sinh tồn của mình, không tin bất cứ ai và bất cứ điều gì trừ bản thân mình, thì sinh hoạt của Hội quán Văn khoa lúc đó làm tôi ngạc nhiên. Thoạt nhìn thì đó là một quán cà phê với một quầy bán hàng và thu ngân cùng các bộ bàn ghế như bất cứ một quán cà phê nào lúc đó, nhưng có thêm một bàn bóng bàn. Nhân viên bán hàng là những cô sinh viên Văn khoa mặc áo dài đủ màu và thay đổi người mỗi ngày, ở đó bạn có thể uống cà phê và các loại nước giải khát khác, buổi sáng có bánh cuốn, bánh mì thịt, bánh patêsô ăn điểm tâm, tất cả đều với giá rất sinh viên. Khi được tham gia tôi mới biết Hội quán là nơi gây quỹ sinh hoạt cho Ban Đại diện sinh viên trong phong trào đấu tranh SVHS của trường lúc đó và do Hội Nữ sinh viên quản lý. Một nhóm các chị lớn phụ trách công việc chung như điều động, phân công trực các nhóm làm việc, tìm nơi cung cấp hàng hóa để bán… còn các nhóm làm việc hàng ngày phần lớn là sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2, trực bán hàng ngoài giờ học mỗi tuần 1 hay 2 buổi sắp xếp tùy theo lịch học cá nhân. Khi trực thì mỗi nhóm  gồm 5 hay 7 người tự phân công luân phiên làm việc, lần này ngồi bán phiếu thu tiền thì lần sau pha cà phê, pha các loại nước giải khát, lần sau nữa thì hoặc rửa ly hoặc chặt nước đá… Khách hàng cũng toàn là sinh viên trong trường và các trường bạn chung quanh như trường Dược, trường Nông Lâm Súc. Đây cũng là lần đầu tiên tôi biết ở Sài Gòn có một quán cà phê như vậy, khách mua phiếu ở một cô sinh viên trẻ măng, cười rất tươi nhưng luôn luôn thu tiền mà không bao giờ … cho ghi sổ, kế đó mang phiều sang quầy đưa cho một cô sinh viên áo dài tha thướt khác và đợi, khi đồ uống hoặc thức ăn chế biên từ phòng trong được mang ra quầy, khách hàng sẽ tự mang về bàn mình ngồi, và khi rời khỏi quán thì mang ly tách trả nơi quầy để sinh viên phục vụ mang vào trong rửa. Vào những năm 70 thời đó có lẽ ở Sài Gòn có duy nhất một quán cà phê  như vậy, nhưng đặc biệt là rất đông khách, thậm chí có những lúc quá đông khách hàng, các cô sinh viên bán hàng trở nên rất “cửa quyền” với khách, nhưng khách hàng phần lớn là các chàng sinh viên trẻ tuổi lại cũng rất kiên nhẫn vui lòng chờ đợi để nhận một ly cà phê. Ngoài ra tất cả mọi người tham gia Hội quán đều làm việc tự nguyện, vào đầu buổi làm việc chị phụ trách giao cho nhóm một hộc tủ tiền lẽ và một cuốn Nhật ký Hội quán, cả nhóm bắt đầu ai vào việc đó: chặt nước đá, chuẩn bị ly tách, phin cà phê, nấu nước sôi, nhận giao các thức ăn sáng làm sẵn, bán phiếu, thu tiền, rửa ly tách…, đến hết buổi làm việc chị phụ trách nhận lại một hộc tủ tiền đã được đếm và xếp theo loại, ghi vào nhật ký bán hàng. Sau khi để lại tiền vốn mua hàng hóa cho ngày hôm sau, phần tiền lời hàng ngày bỏ hết vào quỹ để tổ chức các hoạt động như văn nghệ, làm báo, hội họp, phát cour cho sinh viên nghèo, cứu trợ thiên tai…

Thời gian đó một cô sinh viên tiểu tư sản thành thị như tôi dĩ nhiên không hiểu gì về cái gọi là kinh tế tập thể, kinh tế XHCN…, nhưng sinh hoạt ở hội quán Văn khoa đã làm tôi bất ngờ và hãnh diện khi được tham gia vào tập thể đó, tôi đã yêu mến bạn bè và xem Hội quán như ngôi nhà thứ hai của mình. Từ tình cảm như vậy dần dần tôi đứng vào phong trào SVHS đấu tranh, tôi tập hát và tham gia những đêm không ngủ, tôi đã ở lại trường đến tối mịt để đánh sencil, quay roneo làm báo, kẻ khẩu hiệu, dán áp phích, đã xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, chống Mỹ, tham gia những đêm Hát cho đồng bào tôi nghe… Buổi sáng đến trường mong ngóng gặp lại các bạn bè quen thuộc, bởi vì nếu vắng một người nào thì có thể bạn đã vào Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn tối hôm qua rồi. Với tình cảm và hoạt động cùng bạn bè , tôi gắn bó với trường Văn khoa với phong trào SVHS Sài Gòn lúc bấy giờ, tôi yêu quý các anh chị và bạn bè trong phong trào, ở đây dần dần tôi hiểu ra thế nào là chiến tranh nhân dân, tôi mang trong tim niềm mơ ước đất nước thống nhất, tôi đau lòng và giận dữ khi phong trào bị đàn áp, đó là thời gian đẹp đẽ nhất trong thời tuổi trẻ, tôi đã sống hết mình, đã có những người bạn thật tốt, đã có tình yêu và cũng có những nỗi buồn. Cho đến bây giờ, sắp bước vào tuổi 60, tôi vẫn tự hào đã có một thời gian thật đẹp như vậy khi còn trẻ, và cảm thấy thật giàu có khi nhớ về những kỷ niệm thời tuổi trẻ của mình.

TÔI RẤT NHỚ TRƯỜNG VĂN KHOA!

 

NMA

Đọc tiếp ...