Hiển thị các bài đăng có nhãn huỳnhquanthư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn huỳnhquanthư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

(78) "Vợ bé" Ông Đại úy!

Trong phong trào đấu tranh của Thanh niên Sinh viên Học sinh Sài Gòn trước 1975, có biết bao câu chuyện bi hùng về những người trẻ miền Nam - thế hệ dấn thân yêu đời - những câu chuyện không nhiều người biết, những câu chuyện mà người ngoài cuộc có khi khó đồng cảm, những câu chuyện khiến người ta... thắc mắc, nghi ngờ...
Người Văn Khoa xin giới thiệu ở đây một câu chuyện mà người trong cuộc "bây giờ mới kể" như một lời tri ân nhân ngày Sinh Viên Học Sinh 9/1


Photobucket


Tôi và anh Lê Quang Lộc gặp nhau trong phong trào sinh viên Văn khoa 1967-1968, sau gần 2 năm hoạt động sát cánh bên nhau, chúng tôi trở thành một đôi yêu nhau “thầm lặng”, chỉ có tổ chức biết vì nguyên tắc hoạt động để bảo toàn cơ sở.

Sau Tết Mậu thân, anh Lộc đột ngột thoát ly theo sự phân công của Thành Đoàn, vào mật khu cùng với 5 sinh viên khác là đại diện khối sinh viên tham gia Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, còn tôi ở lại tiếp tục công tác trong nội thành.

Tháng 3-1970, 41 sinh viên thuộc nhiều trường đại học bị bắt, tôi thoát ly vào chiến khu .

Tháng 12-1970, Trung ương đoàn bố trí anh Lộc về lại Thành Đoàn, tạo điều kiện cho chúng tôi gặp lại nhau sau gần 3 năm xa cách. Và đầu tháng 4- 1971, Thành Đoàn tổ chức lễ cưới cho chúng tôi tại một cánh rừng đầy ong mật và hoa ô môi hồng nở rộ khắp ven sông Sở Thượng thuộc Huyện Hồng Ngự,  Tỉnh Đồng Tháp, gần biên giới Việt Nam-  Kampuchia.

 Rồi tôi cấn thai, tháng 9-1971 tôi phải về Sài Gòn sống hợp pháp chờ ngày sinh nở. Để bảo đảm an toàn cho tôi, ba má tôi  phải bán căn nhà ở quận 3 đã bị lộ từ khi tôi thoát ly, về Thạnh Mỹ Tây mua căn nhà mới cho tôi tá túc. Tại đây, gia đình tôi mở một hiệu thuốc tây vừa làm kế sinh nhai, vừa làm bình phong cho tôi.

 

Sau khi sinh cháu trai, nuôi con được 3 tháng, tôi nối liên lạc lại với tổ chức, thoát ly lần thứ hai, về căn cứ Thành Đoàn lúc này ở huyện Phụng Hiệp Cần Thơ. Phải gởi con nhỏ lại cho hai bên nội ngoại, dù biết cháu được ông bà, cô dì yêu thương chăm sóc chu đáo, lòng cha mẹ nào không khỏi nhớ thương. Thời chiến, những lúc hiếm hoi được ở bên nhau, đêm đêm chúng tôi nhắc đứa con ngoài vùng tạm chiếm, vừa tội nghiệp cho cháu vừa thương cho mình. Hai chúng tôi bàn quyết định, tình cảnh như vầy chỉ sinh một đứa mà thôi.

 Nào ngờ tháng 12/1972, do yêu cầu của Đại hội Đoàn - lúc này căn cứ Thành Đoàn ở Tiplơn, rồi Bông Kông trên đất bạn Kampuchia, tôi và nhiều đ/c cánh học sinh - sinh viên phải đi đường du kích suốt 50 ngày đêm, vượt bao gian khổ hiểm nguy về đến Thành Đoàn sau bao lần đối mặt với cái chết. Còn anh Lộc thì từ Củ Chi lên căn cứ, cũng bao phen bị pháo nổ kế bên mình.

Gặp lại nhau sau Hiệp định Paris 27-3-1973 trên đất bạn, rồi mở đường trở lại Miền Nam, hai chúng tôi quyết định sinh cháu thứ hai, để cháu lớn còn có anh em nâng đỡ nhau trong đời nếu một trong hai, hoặc cả hai chúng tôi hy sinh.

Vậy là tôi sắp có cháu thứ hai tại căn cứ Thanh An, Huyện Bến Cát, Tỉnh Bình Dương. Lần thứ hai, tôi lại phải về căn nhà Thạnh Mỹ Tây tạm lắng.

Lần đầu về sinh cháu trai, bà con láng giềng hai bên vô tình thắc mắc: “Sao không thấy chồng cô Hai về thăm vợ con ?” Bất ngờ, má tôi lúng túng buộc miệng : “Nó lỡ làm lẻ ông đại úy”. Bà con nhìn tôi vẻ thông cảm. Còn có nỗi oan nào đáng buồn hơn? Nhưng tôi yên tâm với phận làm lẻ này, bởi nó là vỏ bọc hữu hiệu nhất vì thời đó, việc sĩ quan Thiệu - Kỳ có vợ nhỏ là chuyện rất phổ biến, bình thường, nên không ai chú ý.

Lần thứ hai về sinh cháu gái, cô Ba, cô Ngọc Châu ở kế bên nhà, mợ Bảy ở sát vách bên phải chỉ hỏi thăm mấy câu rồi “cho qua”… Sinh cháu gái được hai tháng, ở nhà hoài cũng tù túng, tôi cải trang cẩn thận, đến thăm thầy Tôn Thất Thiện, thầy cũ dạy tôi từ cấp 2, 1956-1957, rồi cấp 3, tại trường Nữ trung học Mỹ Tho. Hồi tôi còn là sinh viên, thầy về quê tôi dạy học rồi làm Hiệu trưởng trường. Từ khi lên Saigòn học đại học, 1964 tôi vẫn thường xuyên giữ liên lạc với thầy. Tình thầy trò gắn bó nhiều năm như người thân. Gặp tôi, thầy và cô Xuân vợ thầy mừng rỡ :

- Ồ Thư, sao lâu quá không thấy đến chơi ? Dạo này ở đâu, làm gì, khỏe không?

- Dạ, ra trường, em đi dạy xa nên không có dịp ghé thăm thầy cô, nhưng vẫn nhớ thầy và cô nhiều.

Tôi báo cáo thầy tôi đã lập gia đình và có hai con.

- Thế chồng Thư làm gì ở đâu, sao không đưa đến giới thiệu?

- Dạ, ảnh làm đại úy, đang đánh nhau ở vùng 1 chiến thuật, lo lắm thầy cô ạ

Tôi dự kiến nói ông xã ở xa để dễ bề bịa chuyện, nếu thầy cô quan tâm hỏi tới. Không ngờ thầy Thiện reo lên: ô, thế thì hay quá, anh thầy là Phó tư lệnh vùng 1, Thư đưa tên ông xã, cấp bậc, chức vụ, số quân cho thầy, thầy sẽ nhờ anh thầy giúp đỡ, chuyển về cho.

Tôi giật mình, bối rối, vờ đánh trống lãng, lái qua chuyện khác rồi vội rút lui ra về với cảm giác lâng lâng, thương thầy cô quá, lúc nào cũng xem tôi như em cháu, lo lắng cho tôi quá nhiệt tình.

 30-4-1975, Sài Gòn giải phóng cũng là lúc tôi nhận được tin anh Lộc đã hy sinh vì pháo trên đường tiến quân vào thành phố, ngày 15-4-1975 tại Hóc Môn!

Giữa niềm vui lớn lao của đất nước và cái buồn đến chết điếng trong lòng, nước mắt nào tôi mừng ngày chiến thắng, nước mắt nào tôi khóc cho người chồng, người đồng chí quá đỗi yêu thương?

Photobucket


Thôi đành nuốt nước mắt vào trong âm thầm công tác. Tôi đã được trả danh “Vợ lớn”, nhưng “ông đại úy” thì không bao giờ về…

Cô Ba, cô Ngọc Châu, mợ Bảy qua thăm hỏi ân cần, nắm tay tôi khẻ nói : “Hồi đó, cũng nghi lắm mà không dám hỏi, cô Hai cũng bớt buồn, chiến tranh mà, biết đâu để tránh, tiếc là tụi tôi không được gặp Dượng ấy “

Còn thầy cô Thiện ngạc nhiên và xúc động, “Không ngờ, Quan Thư tiểu thơ vậy mà gan hỉ, dám làm VC!”, và thầy cô càng thương hơn cô học trò sớm mồ côi chồng.

Không bao lâu sau giải phóng, cô Ba hồi hương về Gò Công, cô Ngọc Châu mất hơn 20 năm rồi, Thầy Thiện nay đã 80 tuổi, cùng với cô và các con Việt Nam, Thái Nguyên, Hà Tiên, Mê Linh định cư tại Mỹ, mỗi lần về thăm quê hương đều ghé thăm tôi - cô học trò của gần 60 năm trước.

Gặp nhau, ôn chuyện cũ, vẫn giọng Huế ấm áp nhẹ nhàng thầy nói: “Ừ,Thư gan hỉ, dám nhận mình là vợ bé ông đại úy, lại còn nói gạt thầy nữa hỉ” rồi thầy cười xòa, cô Xuân và tôi cũng cười theo…

Ngoài sân nhà, nắng Sài Gòn sao đẹp lạ.


Tháng 10-2010

Huỳnh Quan Thư

 

 


Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

(59) THẦY TÔI

Tháng 11, những người đã đi qua 2/3 đời người, khi lo toan cuộc đời không nhiều nữa, lòng lắng lại, những kỷ niệm xưa quay về. Nguoivankhoa xin giới thiệu chùm bài nhớ về thầy cũ của chị HUỲNH QUAN THƯ - sinh viên Văn Khoa -  như một lời cảm ơn các thầy cô giáo.

 Photobucket
Những kỷ niệm thời sinh viên Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1966-1970

Viết về thầy Châu Long, nguyên Trưởng khoa Sử-

Đại học Văn Khoa Sài Gòn những năm 1966-1970

 

Huỳnh Quan Thư

Sinh viên Khoa Sử Địa năm 1966-1970

        Là những sinh viên yêu nước, hoạt động trong phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn, nhiệm vụ của mỗi chúng tôi bao gồm:

1.   Có bản lĩnh, có tác phong nhanh nhẹn, tháo vát, dễ gần gũi, càng hoạt bát, thu hút cảm tình của sinh viên càng dễ hoàn thành nhiệm vụ.

2.   Để có uy tín với trường, với sinh viên, chúng tôi ngoài phải gương mẫu trong sinh hoạt cá nhân, còn phải gương mẫu trong học tập, mà thi đậu các chứng chỉ đang học là thước đo rất quan trọng.

Niên khóa 1966-1967 với tư cách là Đại diện chứng chỉ Dự bị Sử Địa, tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một “lớp trưởng” năng động và dễ dàng thi đậu cuối năm.

Niên khóa 1967-1968 tôi là đại diện chứng chỉ Quốc sử và ghi danh thêm chứng chỉ Địa lý địa phương, rồi là phó chủ tịch ngoại vụ BCH Sinh viên Văn Khoa Sài Gòn; sau tết Mậu Thân tôi còn đảm đương chức vụ Tổng  Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn.

Công việc quá nhiều, quá dồn dập, tôi như con thoi hết tới lớp tới trường, hết trường đến Tổng Hội sinh viên. Tôi đã cố gắng hoàn thành cả 3 nhiệm vụ, cuối năm học tôi cũng đã dễ dàng thi đậu chứng chỉ Địa lý địa phương nhưng chứng chỉ Quốc sử thì rớt. Thời điểm này là đầu niên khóa 1968-1969. Dù khá buồn, tôi và các bạn sinh viên tranh đấu làm công tác sinh viên vụ, hướng dẫn các tân sinh viên làm thủ tục nhập học.

Chúng tôi bố trí bàn hướng dẫn và phát tài liệu ngay tại cổng ra vào chính của trường (gần đường Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn), dưới tán cây me tây rộng mát.

Đang ngồi cùng các bạn Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thanh Tòng, Trần Thị Huệ phát tài liệu, bỗng thầy Châu Long đi nhanh đến bàn, khẩn trương nói với tôi: “Thư, trò đậu rồi đó, khẩn trương về ôn bài, chiều thi vấn đáp”. Nói xong thầy đi một mạch vào phòng giáo sư, bên dãy nhà góc Cường Để - Thống Nhất (nay là Đinh Tiên Hoàng – Lê Duẩn) các chổ chúng tôi ngồi khoảng 20 mét.

Tôi rất bất ngờ, ngỡ ngàng suy nghĩ, mình đã dò kỹ, danh sách đậu không có tên mình, chắc có sự nhầm lẫn, và rồi tôi vẫn bình tĩnh phát tài liệu và trò chuyện cùng bạn bè.

Tuy đã vào văn phòng, thầy Châu Long vẫn theo dõi quan sát, thấy tôi vẫn ngồi làm việc tỉnh bơ, thầy bí mật ngoắc tôi vào nói: “về học bài chiều thi oral (vấn đáp), bài cô thiếu nửa điểm, vớt cô tôi phải vớt thêm 7 sinh viên nữa đó”.

Hiểu ra, mừng quá, tôi cám ơn thầy rồi ba chân bốn cẳng chạy ra, nhờ bạn Tòng chở tôi về nhà, lôi hết sách vở Quốc Sử ra học lấy học để, với một niềm hạnh phúc dâng trào. Tôi tự nhủ mình không chỉ học cho mình mà còn học vì niềm tin của Thầy.

Tôi đã hiểu Thầy cũng yêu nước, thương cách mạng, thương sinh viên tranh đấu nên đã âm thầm tìm cách giúp tôi – giúp tôi không vì tôi là Huỳnh Quan -Thư mà vì Huỳnh Quan –Thư là sinh viên yêu nước!

Ôi, tình thầy trò, tình yêu non sông đất nước, thầy trò tôi đã gặp nhau ở điểm tương đồng này.

Buổi chiều, lên phòng thi vấn đáp, thầy hỏi bài tôi bình thường và hạ bút cho điểm 7/10 trước mặt tôi cho tôi yên lòng. Tôi rơm rớm nước mắt cám ơn thầy và nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng với nhiều cảm xúc ngập tràn, thương thầy hơn gấp bội.

Sau ngày giải phóng, tôi có dịp gặp thầy vài lần, thầy vẫn nhìn tôi với ánh mắt thân thương, tin cậy, ánh mắt thông cảm sẽ chia với tôi trước mất mát lớn lao, anh Lê Quang Lộc, chồng tôi (cũng là sinh viên khoa Sử Địa) nguyên Chủ tịch Ban chấp hành Sinh viên Văn Khoa Sài Gòn 1967-1968 đã hy sinh trên đường tiến công về giải phóng Sài Gòn ngày 15/4/1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Nay thầy Châu Long đã đi xa, tôi mãi mãi ghi nhớ ơn thầy, tiếc là ngày thầy đi xa tôi không biết tin để đến viếng và đưa thầy về cõi vĩnh hằng. Hình bóng người thầy thân thương ấy đọng mãi trong tôi.

Đã hơn 40 năm trôi qua, hôm nay viết được những dòng này, lòng tôi thấy nhẹ nhàng ấm áp, vì đã nói lên được lời tri ân với thầy, dù muộn màng nhưng mãi mãi.

Photobucket

 
Hằng năm, nhóm sinh viên yêu nước chúng tôi vẫn tổ chức đi thăm thầy cô cũ nhân ngày 20-11.
Một là ghé thăm Thầy Lý Chánh Trung, nhà ở Làng đại học Thủ Đức, gần nhà Thầy Châu Long ngày xưa. Thầy Trung cho biết Thầy Long ủng hộ Cách mạng và cũng rất nhiệt tình, đã từng nuôi chứa Ông Tạ Bá Tòng, một cán bộ rất nổi tiếng của Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt nam của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.


Huỳnh Quan Thư

 

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

(52) Người Văn Khoa - Người Sài Gòn


Vào những năm phong trào sinh viên tranh đấu, có rất nhiều sinh viên tuy không trực tiếp tham gia nhưng đã âm thầm làm "hậu phương vững chắc". Và chính họ, đã cùng gia đình trở thành điểm tựa an toàn, góp phần tích cực cho phong trào.
Người Văn Khoa giới thiệu ở đây kỉ niệm ân tình của chị Huỳnh Quan Thư với một người bạn học và gia đình - những người Sài Gòn thân thương.
(Lẽ ra, bài viết này đến với mọi người sớm hơn, nhưng phải chờ chị Thư tìm hình chị Ngọc Yến. Hình ngày xưa nên bị úa vàng, NVK đính kèm theo đây, bao giờ chỉnh được đẹp hơn thì sẽ thay.)

Photobucket

 


 

 

Năm học 1966-1967, sau bầu cử, tôi trở thành “Lớp trưởng” lớp Sử Địa. Tuy sinh viên ghi danh rất đông, nhưng có mặt thường xuyên ở giảng đường chỉ khoảng 150 bạn. Song song với việc học, tôi luôn cố gắng làm tốt nhiệm vụ đại diện của mình, phục vụ thiết thực quyền lợi sinh viên. Vì thế, tôi được các bạn thương yêu quan tâm , không khí lớp học rất vui tươi, chan hòa và đầm ấm.

 

Sau vài tháng học tập, tôi chú ý đến một người: đi học rất đều, ăn mặc sang trọng, phấn son chu đáo, nổi bật hẳn so với đám hơi quậy của chúng tôi. Bạn ấy rất ít nói và hầu như không thân thiện với ai. Gặp nhau hằng ngày, nhưng tôi dè dặt. Rồi một lần, tôi khẻ chào: khỏe không? Thật bất ngờ, bạn mỉm cười nhìn tôi thân thiện.

Thế là một tình bạn bắt đầu. Bạn tên Huỳnh Ngọc Nữ, nhưng vẫn thường được gọi thân mật là Ngọc Yến – Yến của tôi đó.

 

Sau lần tổ chức du khảo núi Châu Thới, Yến chủ động hỏi địa chỉ nhà và hẹn sẽ đến chơi, tôi trao địa chỉ cho bạn cùng với sự hoài nghi bạn chỉ xã giao. Không ngờ, đúng hẹn, bạn đến và trò chuyện rất tự nhiên, cởi mở. Không biết “đánh hơi” về tôi thế nào, trong câu chuyện

đột ngột Yến cho biết đại gia đình bạn tham gia chống Pháp trở về và nhiệt tình mời tôi đến thăm nhà.

 

Lần đầu tiên đến nhà, bác trai Huỳnh Công Khanh và bác gái Nguyễn Thị Đệ cùng chị Huỳnh Ngọc Anh tiếp tôi thân mật, ân cần như người thân của gia đình, để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và tình cảm đậm đà không thể nào quên.

 

Từ đó, mặc nhiên, gia đình bạn nuôi chứa tôi hoạt động cho đến ngày giải phóng.

 

Yến lớn hơn tôi hai tuổi, nhưng chúng tôi cứ gọi nhau bằng tên. Hai chúng tôi cứ thủ thỉ tâm sự với nhau đủ mọi thứ trên đời, và không hề giấu nhau điều gì: tình yêu, thi cử, học tập… Nhưng công tác của tôi, không bao giờ bạn hỏi, mà cứ lẳng lặng  hổ trợ hết mình. (lần đến nhà thầy Nguyễn Ngọc Th trong bài “Bé cái lầm” là một thí dụ, tôi sẽ nói sau)

 

Hai Bác và chị Ngọc Anh, nguyên là nhân viên Chi cục thống kê Sài Gòn dành cho tôi một tình thương đặc biệt, âm thầm chăm sóc bảo bọc tôi chu đáo, tự nhiên. Mỗi lần đến nhà, chỉ có bác trai và tôi có tiêu chuẩn điểm tâm phở, hủ tiếu, bánh cuốn…Luôn nhớ mình là cán bộ cách mạng, cùng với sự giáo dục chu đáo của ba má tôi, đến đâu tôi cũng thực hiện “ba cùng”  nhưng bác gái và chị Ba không cho tôi động tay :

- Thư đi nghỉ đi, “làm việc” mệt rồi, để bác, để chị làm cho, có gì đâu…

 

Một lần, Bác trai tâm sự “Cháu đã hy sinh, lo việc nước, bác và gia đình có trách nhiệm ủng hộ, giúp đỡ cháu hoàn thành nhiệm vụ”

 

Đơn giản và bình thường vậy thôi, nhưng thấm đẫm bao nghĩa tình!

 

Còn nhớ, sau lần tôi và chị Trần Thị Ngọc Hảo, Phó chủ tịch Tổng hội sinh viên, họp báo ở số 4 Duy Tân (nay là Nhà Văn hóa Thanh niên), phản đối Thiệu-Kỳ bắt giam anh Võ Trường Cổn vì bài thơ “thân Cộng” trên báo Sinh viên của Tổng hội, tôi bị cảnh sát theo dõi ráo riết. Tối đó tôi không về nhà, 11g30 tôi lên nhà hai Bác, nghe

tiếng xe tôi, Bác trai nhanh nhẹn nhốt chó, khẻ mở cửa, đẩy nhanh tôi vào nhà:

- Vô giường Yến đi, để xe Bác dẫn cho.

Một đêm bình yên trôi qua, tôi đã đánh một giấc ngon lành. Sáng ra hai Bác nhìn tôi trìu mến :

- Hồi hôm, tụi nó rượt con Thư.

 

Sau đợt 2 tổng tấn công Tết Mậu Thân, thấy tình hình an ninh của tôi căng thẳng, bác trai bố trí cho Yến đưa tôi ra Vũng Tàu quê bác lánh nạn một thời gian. Tại đây tôi lại được đại gia đình Bác chăm sóc, bảo vệ : cô Ba, cô Tư, chú Sáu, cô Bảy, rồi các em Cúc, Hương, Huê… tôi trở thành là đứa cháu ruột trong nhà. Đến giờ, tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên đến, cô Bảy đãi bữa cơm canh chua khô cá trích mà có lẽ suốt đời tôi khó có thể tìm lại cái hương vị ngon lành ấy! Còn cô Ba thì nấu đồ chay rất ngon!

 

Một lần khác vào cuối năm 1969, tôi ra tù, các sinh viên phong trào bị theo dõi hết sức gắt gao, tôi khăn gói lên nhà Bác ở thường xuyên hơn. Mờ sáng phải đi công tác, đích thân Bác trai đưa tôi đi theo những con đường ngang ngõ tắt ngoằn ngoèo để ra đường lớn, tránh sự theo dõi của bọn an ninh. Tôi đi, ngoái nhìn lại vẫn thấy bác dõi theo lo lắng, băn khoăn…

 

1972 rồi 1974, hai lần tôi về sanh con, nhà hai Bác vẫn là nơi tôi lui tới. Lần sanh cháu thứ hai, bác gái và chị Ba lặn lội đến Nhà Bảo sanh thăm hỏi với bao nhiêu là bánh trái, cả hột gà nữa, mà bác và chị nào có khá giả gì đâu !

 

Ngày 15-4-1975, anh Lê Quang Lộc, chồng tôi hy sinh trên đường về Giải phóng thành phố. Sự mất mát quá lớn vào những ngày kề cận Hòa bình làm tôi như mất thăng bằng. Tôi lao vào công tác, bất kể giờ giấc, ngày đêm nên ít lên thăm hai Bác và gia đình. Thương biết bao nhiêu, hai bác cứ trông tôi đến như ngày nào, còn tôi, như cánh chim trời, cứ bay đi mà chưa vội quay về

 

Ngày mồng 9-7 âl 1976, Bác trai đột ngột ra đi vì cao áp huyết, tôi xin phép ba má tôi để tang cho Bác với nỗi ân hận xót xa, nhưng tôi tin rằng, Bác trai với tấm lòng độ lượng bao dung, chắc chắn đã hiểu và thông cảm cho tôi chưa kịp đáp đền ơn nghĩa chớ đâu phải kẻ vô tình. Tôi vẫn là đứa con trong gia đình, thường xuyên đến với Bác gái, chị Ba và Yến hơn.

 

Sau khi ra trường, Yến dạy học trường Trung học Chi Lăng (hiện nay là trường Hà Huy Tập) chồng bạn, anh Võ Ngọc Phước, người bạn trai ngày ấy Yến vẫn tâm sự với tôi, hai đứa con chính là kết quả tình yêu đằm thắm từ thuở học trò.

Và chúng tôi, sau bao nhiêu thăng trầm, vẫn gắn bó như ngày nào. Đám giỗ Bác trai, sinh nhật hai con Yến, tôi đều có mặt. Vẫn là tình thân tự bao năm!

 

Ngày vui qua mau, ngày19-8 âl 1979, Yến của tôi ra đi đột ngột vì bệnh tim, căn bệnh đã làm khổ bạn từ những năm1958 - 60. Chị Ngọc Anh thay Yến, nuôi hai cháu. Và tôi, người bạn thân của Yến, người dì của hai cháu Anh Kiệt, Bảo Trân, vẫn luôn dặn lòng giữ trọn mối ân tình.

 

Bác gái rồi cũng ra đi năm 2002 sau một cơn đột quỵ

 

Người tốt vẫn thường hay gặp nạn chăng? Chị Ngọc Anh hiện mang bệnh nan y. Nhưng may là cháu Trân và chồng được một người học trò cũ của Yến là cô Trần Thị Tuyết Hoa - Phó Tổng Giám đốc Saigon Co.op, tạo điều kiện vào công tác tại một siêu thị trong hệ thống từ hơn 10 năm nay. Bạn tôi chắc cũng tạm yên lòng nơi cõi ấy.

 

Ngày 9-7 âl vừa qua, về dự giỗ Bác trai, nhìn ảnh hai Bác, biết bao kỷ niệm xưa tràn về, trong tôi dậy lên nhiều nỗi nhớ.

 

Rồi hôm nay 19-8 âl, lần giỗ thứ 32 của Ngọc Nữ - Ngọc Yến của tôi…

Bồi hồi nhớ bạn, mấy dòng này là tất cả lòng thương nhớ và biết ơn của tôi đến người bạn Văn Khoa, đến hai Bác, đến người Chị SàiGòn.

 

Người Văn Khoa là như thế đó .

Người Sài Gòn là như thế đó.

Thương biết mấy, tự hào biết mấy !

 

Huỳnh Quan Thư

Sàigòn - TP Hồ Chí Minh,

ngày 16-9-2011 (19-8 âl)

 

 

Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

(43) Tháng Chín và những ngôi trường (4)

Đại Học Văn Khoa Sài Gòn đã từng là một trong những cái nôi của Phong trào Học sinh – Sinh viên Sài Gòn – Gia Định trước 1975. Ngày đó, chúng tôi đã gian nan từng  bước dành quyền làm chủ trong Ban Đại diện Sinh viên, và cuộc chiến ấy cũng không dễ dàng gì…

Tháng Chín, nhớ về ngôi trường Văn Khoa yêu dấu ngày xưa, Người Văn Khoa giới thiệu đôi dòng hồi ức của một người trong cuộc - Chị Huỳnh Quan Thư - đã ưu ái gởi về cho Góc nhỏ Văn Khoa.


Photobucket

LÁ PHIẾU NGHĨA TÌNH


(Viết về cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Sinh Viên Văn Khoa 1967-1968)


Niên khóa 1967-1968, nhóm sinh viên yêu nước bước đầu dành quyền làm chủ Hội
Đồng Đại diện Sinh viên (1), tức nắm được 6 nhiệm ý và 33 chứng chỉ của trường. Anh Lê Quang Lộc làm chủ tịch, tôi làm thủ quỹ, ngoài ra còn có các anh Trương Văn Hùng, Dương Hữu Hạnh - những sinh viên thân với phong trào đấu tranh.

Tuy thế, cuộc chiến dành Ban Chấp Hành (2) thì chưa đủ sức, phải lùi một bước để liên danh Lê Hoàng Văn đắc cử. Lê Hoàng Văn thuộc nhóm Liên Trường của Trần Văn Hương, thủ tướng mị dân lúc bấy giờ.

Với sự lớn mạnh của lực lượng sinh viên yêu nước, nhóm sinh viên tiến bộ ta dễ dàng làm chủ hoàn toàn Hội đồng đại diện Sinh viên Văn khoa do anh Trầm Khiêm làm chủ tịch, chị Nguyễn Thị Yến làm thủ quỹ.

Trong tình thế ấy, cuộc chiến dành lấy Ban chấp hành sinh viên Văn khoa vẫn chưa ngã ngũ. Đó là cả một quá trình gay go, so kè từng bước giữa Liên danh 1, là nhóm sinh viên tiến bộ do anh Lê Quang Lộc làm chủ tịch, với liên danh 2 do Bùi Bảo Trúc thụ ủy, Bùi Bảo Trúc là sinh viên du học từ Úc trở về, dáng trí thức với cặp kính cận, có vẻ là đối thủ nặng ký, lại được phe chính quyền ủng hộ hết mình.


Để dành phiếu, liên danh 2 đã đưa cả hàng hóa vào trường bán giá rẻ cho sinh viên,
như mỹ phẩm, vải Nylfran, loại vải mới có thời đó, rất được sinh viên ưa chuộng vì dễ giặt, dễ khô, không cần ủi, giá lại rất mềm .

Ngày vận động bầu cử chính thức, liên danh 2 còn dùng cả mỹ nhân kế, cho một nữ
sinh viên rất đẹp, ăn mặc hấp dẫn, công khai đứng ra vận động. Điều này cũng thu hút và tác động vào số đông nam sinh viên.

Lợi thế của Liên danh 1 là do các anh chị Lê Quang Lộc, Huỳnh Quan Thư, Nguyễn
Thanh Tòng đều là những gương mặt quen thuộc từ năm học trước và đã hoạt động tích cực, phục vụ quyền lợi sinh viên rất hiệu quả nên được thầy cô tín nhiệm, sinh viên tin tưởng, yêu mến.

Lần đó, không khí vận động tranh cử diễn ra rất quyết liệt, và cuộc bầu cử đã phải tổ chức trong hai ngày, tạo điều kiện cho nhiều sinh viên tham gia.


Riêng lớp Quốc sử của tôi, các bạn Ngọc Châu, Thu Thủy, Hiệp, Hiển…đều bảo nhau phải dồn phiếu cho liên danh 1.


Sang ngày bỏ phiếu thứ 2, một câu chuyện làm tôi cảm kích và nhớ mãi đến bây giờ. Bạn Trần Thị Ngọc Anh, học chung lớp với tôi từ năm dự bị, khi đến trường mới phát hiện bỏ quên thẻ sinh viên ở nhà! Mà đó là điều kiện tiên quyết để nhận lấy phiếu bầu! Nhà bạn ấy ở tận Phú Nhuận, giáp ranh Bình Hòa (nay là quận Bình Thạnh), lại đi xe đạp. Đã phải qua một đoạn đường dài mới đến trường, giờ phải đi về thêm chuyến nữa để chỉ lấy Thẻ sinh viên thì cũng mệt. Bạn ngại ngần cũng phải, huống chi Ngọc Anh lại mảnh mai, chẳng khỏe khoắn gì. Tôi chỉ còn cách xem có bạn nào đi xe gắn máy (thời gian này, sinh viên có xe gắn máy hiếm lắm) để nhờ chở về dùm thì các bạn đã và lớp cả rồi!

Thấy tôi băn khoăn, Ngọc Anh cũng lưỡng lự, suy nghĩ một thoáng rồi quyết định: “Mình sẽ về lấy thẻ sinh viên để bỏ phiếu cho liên danh của Thư. Lỡ mất một phiếu của mình  mà thua thì tức lắm.” Một lời như cởi tấc lòng, tôi mừng vui xúc động, thầm cảm ơn bạn đã hết lòng với mình.

Kết quả: liên danh 1 vượt Liên danh 2 chỉ vài mươi phiếu!

Tôi biết, chính những lá phiếu quý giá, nghĩa tình của Ngọc Anh và những bạn khác – những Sinh Viên Yêu Nước đã tạo nên thắng lợi.

Hình ảnh cô bạn mảnh mai đứng phân vân và rồi quyết định đạp xe về lấy thẻ sinh viên để cụ thể hóa tình cảm đối với chúng tôi, trao cho chúng tôi niềm tin yêu trong sáng khiến tôi nhớ mãi cho đến tận ngày hôm nay. Đó cũng là sức mạnh tinh thần, nguồn động lực theo tôi suốt chặng đường tranh đấu.


Tháng 4-2011, qua hơn bốn mươi năm, nhờ chỉ dẫn của hai bạn Đổ Đình Bảy, Kiều Nga, tôi đã tìm đến nhà bạn, chính là ngôi nhà ngày xưa ấy.

Gặp lai nhau khi tóc đã pha sương, chúng tôi cùng ôn lại những kỷ niệm của một thời sinh viên trong sáng và thân mến. Mới biết, từ khi rời ghế nhà trường, bạn theo nghề dạy học cho đến ngày nghỉ hưu, ở trường trung học cơ sở Lam Sơn, Bình Thạnh.

Mừng cho bạn đã hoàn thành nhiệm vụ, đang có cuộc sống bình yên.

Và tôi, sau bao nhiêu đổi thay của thời cuộc, bao gian nan thăng trầm của cuộc đời, vẫn là Huỳnh Quan Thư ngày nào của các bạn, vẫn tự hào rằng mình xứng đáng với niềm tin yêu mà các bạn trao cho từ thuở ấy.

Quỹ thời gian của những người ở lứa chúng ta còn lại chẳng bao nhiêu, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ còn dịp hội ngộ cùng nhau, phải không các bạn, phải không Ngọc Anh thân mến?

Huỳnh Quan Thư
Tháng 5 năm 2011
Tài liệu viết cho “Kỷ Yếu Văn Khoa”

Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

(37) TÔI LÀM ĐẠI DIỆN LỚP

Những kỷ niệm của thời đi học luôn là kỷ niệm đẹp, gương mặt những người bạn một thời sinh viên vẫn mãi trong ta cho đến tận sau này. Người Văn Khoa xin giới thiệu một kỷ niệm đẹp của chị Huỳnh Quan-Thư.

 

Bài viết về phong trào sinh viên Đại học Văn Khoa Sài Gòn

  

Huỳnh Quan-Thư

Sinh viên Khoa Sử Địa năm 1966-1970

 

          Khoảng cuối năm 1965, nhân một lần đi họp nhóm Nhân văn theo lời mời của anh Lê Đạo Ngạn, bạn cùng trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, Tôi quen với người bạn mới: anh Trầm Khiêm – Trưởng nhóm.

          Những ngày sau đó, anh Khiêm năng lui tới nhà tôi làm thân, tôi xem đó là chuyện bình thường. Không ngờ anh Khiêm là người của cách mạng và tôi đã lọt vào “tầm ngắm” của Tổ chức, một tổ chức mà bao năm nay tôi khao khát đi tìm – Bởi qua sự giáo dục của ba tôi, tôi mê cách mạng tự bao giờ, và trong lòng tôi đã xác định chọn con đường mà ba tôi đã dạy: đánh Mỹ cứu nước, và con đường đó chỉ có thể là đi theo Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, mà qua báo chí tôi biết do ông Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát lãnh đạo.

          Vậy là anh Trầm Khiêm đã đánh trúng điểm!

          Nhiệm vụ đầu tiên của anh Khiêm giao cho tôi là ứng cử làm đại diện lớp Dự bị khoa Sử Địa mà tôi đang học.

          Từ ngày đầu khai giảng, lớp Sử Địa của tôi khá đông, 150-200 sinh viên có mặt thường xuyên. Tôi thấy một nam sinh viên có vẽ lăng xăng, ra vào lớp làm công tác sinh viên, hướng dẫn sinh viên mới còn bỡ ngỡ, giới thiệu bài vở, phát tài liệu, sắp xếp bàn ghế… đó là sinh viên Vũ Bình – sau này tôi mới biết anh nằm trong nhóm thân chánh quyền Thiệu-Kỳ.

          Ngày bầu Ban đại diện lớp, đúng vào giờ của thầy Châu Long – Trưởng khoa Sử Địa Đại học Văn Khoa Sài Gòn những năm 1960.

          Anh Vũ Bình được giới thiệu trước, tôi được một sinh viên giới thiệu sau theo sự sắp xếp của anh Trầm Khiêm và tôi. Như vậy lớp có 2 ứng viên.

          Thầy Châu Long mời Vũ Bình lên phát biểu trước, anh khá tự tin và có phần chủ quan. Anh chỉ nói mấy câu ngắn gọn: Nếu được tín nhiệm sẽ làm tròn trách nhiệm.

          Kế đến thầy Châu Long gọi:

-         Mời anh Huỳnh Quan – Thư lên phát biểu.

Tôi đứng dậy cố nén run, bình tĩnh bước lên bục giảng, cả lớp “Ồ!Chị chứ không phải anh!”

Lấy hết can đảm tôi trình bày:

Nếu được bần làm Đai diện lớp tôi sẽ:

1. Đi học đều đặn, ghi chép bài đầy đủ và tổ chức quay ronéo tài liệu[1] bán giá rẽ cho sinh viên, vì lớp có nhiều sinh viên vừa mưu sinh vừa đi học nên rất cần tài liệu để tự học.

2. Sẽ cùng ban đại diện trường đấu tranh hạ giá giữ xe cho sinh viên vốn đang bị nhóm sinh viên cũ thầu, lấy giá cao.

          3. Sẽ tổ chức đi tham quan các bảo tàng, di tích lịch sử, tổ chức đi học ngoại khóa địa lý ngoài trời – và tôi sẽ là cầu nồi giữa sinh viên với sinh viên; giữa sinh viên với các thầy cô và nhà trường.

          Khi tôi dứt lời, cả lớp vỗ tay tán thưởng, thầy Châu Long nhìn tôi có vẽ ngạc nhiên nhưng hài lòng.

          Cuộc bỏ phiếu diễn ra, tôi dễ dàng đắc cử và Vũ Bình quá bất ngờ: “Cái bà này! Ở đâu ra chơi mình một cú quá đau.”

          Đắc cử Đại diện lớp, tôi giữ lời hứa, tổ chức ghi bài, bán tài liệu giá rẽ, yêu cầu hạ giá giữ xe thành công và nhất là tổ chức cho lớp đi du khảo núi Châu Thới, đi picnic du khảo Suối Tiên[2]… Được sinh viên ủng hộ hết mình, đặc biệt các thầy Châu Long, Phạm Đình Tiếu, Lâm Thanh Liêm, Phạm Cao Dương, Thái Công Tụng… nhiệt tình tham gia, giúp đỡ.

          Chuyến đi nào cũng có các thầy cô đi cùng, vừa kết hợp giảng dạy ngoài trời, vừa hòa đồng với sinh viên, các bài học càng thêm sinh động, rất vui. Tình thầy trò thêm gắn bó, chu đáo hơn, mỗi chuyến đi đều có ảnh lưu niệm đầy đủ, ai cũng hài lòng.

          Lớp dự bị Sử Địa niên khóa 1966-1967 là lớp học đoàn kết thương yêu, gắn bó với nhau từ đầu đến cuối năm học. Và dĩ nhiên, uy tín của tôi được nâng cao, được nhiều sinh viên tin tưởng, quý mến, không chỉ ở lớp mà còn lan rộng ra cả trường, rất nhiều sinh viên dành cho tôi nhiều tình cảm.

          Vậy là năm sau, niên khóa 1967-1968 tôi dễ dàng đắc cử làm Đại diện chứng chỉ Quốc sử, tiếp tục nhiệm vụ lớp trưởng, tiến tới đại diện trường. Năm học này tôi là Phó Chủ tịch ngoại vụ Ban Chấp hành sinh viên Văn Khoa[3] cùng với Chủ tịch là anh Lê Quang Lộc, mà sau này là bạn đời của tôi.

            Bồi hồi nhớ lại, đây là thời gian hoạt động đẹp nhất của tôi dưới mái trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, trong màu áo sinh viên yêu nước. Tôi nhớ mãi các bạn học: Trần Thị Huệ, Huỳnh Ngọc Nữ, Trần Thị Ngọc Anh, Thu Thủy, Phương Thảo, Nguyễn Thị Hiệp, Trần Thị Liên, Nguyễn Thị Ngọc Liên, Ngọc Châu, Ngọc Hiển… các bạn giờ đang ở đâu, ai còn, ai mất? Nhiều bạn đã hơn 45 năm nay chưa một lần gặp lại – Hôm nay nếu đọc được bài viết này, xin hãy biết rằng Huỳnh Quan – Thư không quên các bạn, những gương mặt thân thương của một thời trẻ trung sôi nổi!

HQT

5-7-2010



[1] Một hình thức in ấn bỏ túi phổ biến lúc bấy giờ.

[2] Là địa điểm khu du lịch Suối Tiên hiện nay, ngày xưa nơi đây có một dòng suối nhỏ chảy róc rách vào khu rừng nhỏ, phong cảnh rất đẹp, nên thơ. Thanh niên Sài Gòn thường chọn nơi này làm nơi cắm trại, sinh hoạt hội nhóm.

[3] Ban Chấp Hành Sinh viên Văn Khoa là Ban đại diện chính thức, đại diện cho tiếng nói Sinh viên Văn Khoa.

Đọc tiếp ...