Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

(54) Kỉ vật của bạn chúng ta - Huỳnh Ngọc Hội



Ngày mai 17/9 âl, giỗ bạn chúng ta, Huỳnh Ngọc Hội.
Được sự đồng ý của gia đình, Người Văn Khoa xin đăng lại ở đây những tâm tình, những suy nghĩ của bạn từ những ngày tuổi trẻ.
Việc làm nhỏ này như một nén tâm hương, mong bạn được ấm lòng nơi xa ấy.



Photobucket
* Người thứ hai từ trái sang

 
Photobucket


                         Đã bao ngày từ biệt cố hương

Trở về quê cũ thấy luyến thương

                         Đứa em thơ dại nay không lớn

                         Bà mẹ quê già tóc điểm sương

                         Thân thuộc mấy ai còn ở lại

                         Bằng hữu bao người đã tha phương

                         Làng cũ tháng năm nhiều thay đổi

                         Nằm nghe thao thức suốt canh trường.




Photobucket



Cho Phú Long… vùng quê nghèo

 

Quê hương tôi mùa qua tươi đẹp lắm

Mái tranh hiền tô thắm một miền quê

Những chiều đông và những buổi hè về

Hương lúa mới đượm tình quê thơm ngát

 

Nhưng một chiều, làng quê tôi xao động

Xóm làng tôi vắng bóng những chàng trai

Họ ra đi mang kiếp sống oai hùng

Hẹn trở lại khi tan mùa chinh chiến

 

Mấy năm qua, biết bao lần binh biến

Nhưng than ôi cuộc chiến vẫn lâu dài

Mái tranh nghèo, cháy nám bởi châu mai

Đồng ruộng vỡ vì đạn bom cày xéo

 

Đứa em thơ trưởng thành trong u uất

Bà mẹ quê nước mắt đã cạn rồi

Đêm từng đêm bà thao thức nguyện cầu

Mong thôn xóm mau bình an, yên ấm




Photobucket


Để nhớ mẹ hiền ở Phú Long

 

Những buổi sáng từ trong lòng đô thị

Mẹ rao hàng, quang gánh nặng trên vai

Chân Mẹ lê trên những quãng đường dài

Đi từng xóm, đi từng khu lao động

 

Cuộc sống cơ cầu gian lao cực nhọc

Sưu thuế chất đầy trên gánh mẹ yêu

Hai mươi năm qua đau khổ đã nhiều

Trên trán Mẹ đầy vết hằn năm tháng

 

Mẹ chắt chiu nuôi đàn con khôn lớn

Mẹ âm thầm chịu đựng hết khổ đau

Hy sinh quãng đời tuổi tác già nua

Gây dựng tương lai đàn con tươi sáng

 

Hỡi Mẹ Việt Nam ngàn đời yêu kính

Tình Mẹ dịu dàng, lòng Mẹ bao la

Nhìn Mẹ hiền lòng cảm thấy xót xa

Thương thân Mẹ chịu bao niềm cay đắng

 

Mong mai này quê hương im tiếng súng

Cho mẹ hiền hết những nỗi khổ đau

Được nhìn tương lai rực rỡ đàn con

Môi mẹ sẽ nở nụ cười mãn nguyện.

6/71



Photobucket


Con Mẹ mấy đứa

Nòi giống Tiên Rồng

Mấy đứa con Mẹ

Giống dòng Âu Cơ

*

Con Mẹ mấy đứa

Một giống da vàng

Ngàn năm nô lệ

Ngàn ngày tang thương

*

Con Mẹ mấy đứa

Sống ở hai miền

Bên kia Bến Hải

Bên này Cà Mau

*

Con Mẹ mấy đứa

Bao năm ngoại xâm

Bao năm nội chiến

Rủ nhau đi nằm

*

Mẹ còn mấy đứa?

Mấy đứa da vàng?

Mấy đứa con mẹ

Giống dòng Âu Cơ

***


TÙY BÚT

 Lớn lên từ trong nguồn sáng của ĐẢNG



Photobucket


Trên sân trường hôm nay, lại thấy những ngày bận rộn của phong trào. Buổi chiều, nắng đông vàng còn lưu luyến đậu trên hàng phượng. Bóng dáng của ngôi trường đã nhiều thay đổi, nhưng hãy còn đó khoảng sân và những giảng đường để gợi nhớ Văn Khoa ngày nào. Mười năm rồi còn gì! Mười năm đi qua trong cuộc đời sinh viên Văn Khoa rồi Tổng Hợp, đủ để chứng kiến bao biến đổi diệu kỳ trong lòng người và lòng mình.

 

***

Năm 1970.

Có phải ở nơi này, cũng những ngày cuối năm như bây giờ, mình đã chập chững bước vào ngưỡng cửa Đại học, mang theo những ước vọng mông lung và hoài bão non nớt của tuổi đầu đời?

Có phải ở nơi này, mình cũng đã bắt gặp những bận rộn của anh chị em trong phong trào sinh viên tranh đấu, đang chuẩn bị cho kỳ triển lãm Văn Hóa Dân Tộc và Hội Tết Văn Khoa?

Có phải ở nơi này, đã bắt đầu cuộc đời thực sự của mình, khi lần đầu tiên dấn thân đi vào cách mạng?

Ôi, biết bao là kỷ niệm ở nơi này… nơi này!...

 

Làm sao quên được những ngày mùa đông, dậy thật sớm đến trường, cổng chưa kịp mở, phải leo rào vào dành chỗ ở giảng đường.

Làm sao quên được đợt triển lãm phơi bày thực chất “văn hóa thực dân mới” bên những hình ảnh nhắc nhở văn hóa cội nguồn dân tộc.

Làm sao quên được những tiếng trống truyền thống đêm Hội Tết Văn Khoa giữa muôn nghìn đe dọa, rình rập; hàng nghìn người tham dự sặc sụa trong chất độc hơi cay; những lời ca sôi nổi hào hùng, bay bổng vang dội trên khoảng sân không ánh điện nhưng vẫn sáng lên hàng trăm, hàng nghìn bó đuốc chập chùng!


Photobucket

Từ đấy, bao nhiêu câu hỏi tại sao,tại sao hiện ra tra hỏi lòng mình.

Từ đấy mà những nghĩ suy dằn vặt, thao thức của tuổi trẻ vẫn luôn luôn hiện diện.

Từ đấy mà những mơ ước mông lung riêng mình tan dần trong khói cay, phi tiễn, để được thay thế bằng những ước mơ lớn lao hơn, chính đáng hơn, nẩy sinh từ trong sự gắn bó với phong trào.

 

Cám ơn thật nhiều phong trào Văn Khoa, người đã cho tôi một môi trường trong sáng giữa muôn nghìn vẩn đục để tìm ra chân lí cuộc đời, đưa mình thoát khỏi những tháng năm để thời gian gặm mòn tuổi trẻ.

Cám ơn những người anh, người chị đi trước trong phong trào – những người hiện còn và những người đã khuất – đã cho tôi rõ hơn ý nghĩa sự sống, cho tôi thấy được thứ ánh sáng bợn nhơ gắn trong bóng đêm Mỹ hóa, thấy được những trói buộc bạo ngược phi lý trên mảnh đất “tự do” này.

Cám ơn sợi chỉ đỏ xuyên suốt phong trào – cám ơn những đồng chí đã vượt qua những muôn trùng bủa vây của lũ giặc, mang đến cho tôi những tia sáng chói ngời của Đảng, thắp sáng lòng tôi trong những ngày bão giông chụp lên thành phố, đã khiến cho phong trào thêm sức mạnh đấu tranh, để phong trào không ngừng lớn dậy.

Cám ơn lớp sinh viên học sinh – những mấy năm ròng – luôn có mặt trong những ngày tranh đấu xuống đường, rạng rỡ và quyết tâm trong những giờ hành động, đã cho tôi thêm niềm tin tưởng vào bản chất cách mạng kiên cường, vào sức mạnh lớn lao của tuổi trẻ, tin tưởng vào những thắng lợi to lớn ngày mai từ những góp phần nhỏ bé hôm nay…

 

Photobucket


Từ trong những nghĩa tình sâu sắc ấy mà tôi đã kịp nhận ra rằng những ngày mình giành giật chỗ đứng ở giảng đường là những ngày mình giành giật một chỗ đứng trong thứ rác rưởi của văn hóa sa đọa, là những ngày đày thân nơi giảng đường để gặm nhấm thứ ngôn ngữ xa lạ lạc loài, là những ngày xô đẩy mình quay lưng với tiếng ru hà ơi ngọt ngào của mẹ, quay lưng với nỗi đau quặn thắt trong nửa lòng Tổ quốc, quay lưng với tiếng gọi lên đường của Đất Nước bốn nghìn năm.

Từ trong ánh sáng chân lý ấy mà tôi đã kịp nhận ra mình là đứa con trong lòng đồng bào, sống và lớn lên bằng trái tim và hơi thở của nhân dân, và kịp nhận ra lẽ sống đích thực của đời mình là chỉ có thể và phải là con đường gắn bó với phong trào, gắn bó với nghĩa tình dân tộc.

Từ ấy tôi đi! Những bước chân đầu tiên vào phong trào hãy còn ngỡ ngàng xa lạ, nhưng lâu dần rồi quen, lâu dần rồi thương! Có đồng đội bên mình, có anh chị dẫn dắt, có Người cha bến tàu thôi thúc, có Người mẹ Bàn cờ  bảo bọc, có niềm tin nâng bước, có ánh sáng soi đường… đã cổ vũ mạnh mẽ chúng tôi, nhắm thẳng đầu thù, tiến lên phía trước!

Làm sao quên được những ngày đầu tháng 5/1972, từ giữa giảng đường này, trong ngày bãi khóa, chúng ụp vào siết chặt vòng vây, lưỡi lê và họng súng chĩa vào chúng tôi, ma trắc và dùi cui phủ dập lên người, còng tay chúng tôi lôi đi, trói buộc cuộc đời chúng tôi trong ngục tù của chúng. Chúng tưởng xiềng xích và gông cùm làm nên sức mạnh, nhưng bạo quyền và những đòn thù dã man tra tấn vẫn không dập tắt được ngọn hải đăng rực sáng trong lòng. Chúng tôi vẫn mãi góp được những tiếng ca tin yêu và những tiếng thét căm hờn trong muôn nghìn tiếng ca tiếng thét  căm hờn đòi vận mệnh, sự sống con người vang dội từ Chí Hòa, Tổng Nha, Côn Đảo, Tân Hiệp…

Từ ấy, mà cái thương, cái ghét trong tôi rõ ràng hơn, cái tin yêu và cái căm thù sâu sắc hơn, quả tự tình dân tộc ngày càng chín rộ còn hoa tình yêu giai cấp thì lần đầu tiên chớm nở trong lòng.


Photobucket

***

Năm 1975

Ngày Giải phóng!

Ôi mơ ước ngày nào đã thành sự thật, ước mơ hiện ra nhanh chóng không ngờ! Chiều 30 về đến Văn Khoa, trên thân thể còn hằn dấu xiềng xích và những trận đòn thù nhưng lòng rộn vui vô cùng với nỗi vui của dân tộc và thời đại.

Ôi, bao nhiêu năm mới thấy một ngày!

Có phải tại giảng đường mới vừa giành được này, chúng tôi lại gặp nhau, tay bắt mặt mừng, ôn lại những ngày chiến đấu, nhắc nhở những kỷ niệm chung riêng trong tuổi đời đẹp nhất của mình. Đồng chí, đồng đội, bạn bè - hôm nay thiếu vắng những khuôn mặt ngày nào! Vô cùng tiếc nhớ các anh Long, Phương, Luật, Lộc…Những người anh đã dựng lên phong trào, những người con ưu tú của Văn Khoa…các anh đã vĩnh viễn xa chúng tôi rồi! Đất Nước và ngôi trường có được hôm nay là phải qua muôn nghìn hy sinh mất mát như thế đó.

Tôi lại bắt gặp những bề bộn vô cùng sau ngày giải phóng, lại về với phong trào, lại hăm hở đi trên con đường rộng mở. Nhiệt tình nối tiếp nhiệt tình, phong trào dồn dập phong trào – Không kịp nhìn những đoạn đường đã qua, đôi khi ngoảnh lại, nhận ra có những điều không ngờ mình làm được. Đội ngũ thanh niên trưởng thành nhanh chóng quá, một sức bật diệu kì từ trong nguồn sáng của Đảng! Ngôi trường cũng lớn lên không ngừng, từ Văn Khoa hôm qua, nay đã là Tổng Hợp.

Nhưng cuộc sống không dừng lại ở đó. Sự đảo lộn của lòng người đã phơi bày biết bao vẻ phức tạp của nó. Đất nước của bảo vệ và dựng xây muôn triệu lần gian khổ khó khăn hơn đất nước của đạp đổ. Sống chết bây giờ không còn đơn giản nữa rồi! Cống hiến và hưởng thụ bây giờ không còn bình thường nữa rồi! Nhiệt tình bây giờ không còn đủ sức để chiến thắng những quy luật khách quan của cuộc sống. Dòng đời dồn dập ùa tới trước mặt, nhìn lại hành trang của mình, thấy hãy còn mong manh quá!

 

Có phải ở nơi này, tôi lại gặp những vẻ bi quan, những nét chán nản trên khuôn mặt của một bộ phận tuổi trẻ?

Có phải ở nơi này, một phần của đời sống xã hội – cũng diễn ra bao cái tốt cái xấu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày?

Có phải nơi này, trước những hiện tượng tiêu cực kéo dài, trước những khó khăn chất chồng lên cuộc sống trong đội ngũ tiền phong của thanh niên, tôi lại thấy có những người lùi lại phía sau phong trào?

 

Bao nhiêu câu hỏi “Tại sao,Tại sao” lại tra hỏi lòng mình. Những câu hỏi xé lòng, muôn vàn xót xa ray rứt! Tôi vẫn đi về phía trước của phong trào, vẫn đứng ở mũi nhọn của đấu tranh nhưng bước chân có lúc không còn hăm hở, có lúc như thấy bối rối vì ngại ngần, bước chân đi trong những băn khoăn.

 

Có phải vì ta đã mở lòng đón nhận cách mạng với niềm tin bằng phẳng và dễ dãi quá, tưởng cách mạng sẽ đem đến cho mình mọi điều tốt đẹp, mọi lời giải không hề sai lầm?

Có phải vì ta chờ đợi một thiên đường có sẵn, một thứ ánh sáng thần thánh mang đến cho mình?

Có phải vì ta mới chỉ có ảo tưởng cách mạng chứ chưa hề có lý tưởng cách mạng?

Có phải vì tầm nghĩ ta thiếu rộng xa, tầm nhìn ta quá nhỏ hẹp, đi từ hiện tượng xấu xa này đến hiện tượng xấu xa khác, lẩn quẩn trong những cái nhỏ nhặt thấp hèn mà không tìm được lối ra?

Có phải vì ta phủ định tất cả, chưa biết trân trọng từng mầm non nhỏ của cách mạng, chưa biết chắt chiu từng giọt nước trong xanh của biển đen, chưa biết ôm ấp từng tia nắng hồng trên vầng mây u ám, chưa biết nâng niu từng cái mới lạ non yếu nẩy nở giữa muôn nghìn lề thói hủ bại cũ kỹ nghìn đời?

Có phải vì ta chưa nhận ra những cái lớn lao mai sau từ cái bé nhỏ hôm nay?

Có phải vì cái thần thánh hóa cách mạng và cái tầm thường hóa cách mạng đi đôi với nhau mà lòng ta nghiêng ngữa?

Có phải vì thế mà lòng ta bối rối ngại ngùng, không nhận ra được hướng tiến lên của đời sống xã hội và của chính mình?


Photobucket

Từ ấy, tôi luôn tự nhủ với lòng: hãy hiểu và yêu quy luật cuộc sống hơn nữa! Hãy chấp nhận nó mà không ngại nó khác với bao điều tưởng tượng của mình. Phải thắp sáng lòng mình, không phải bằng thứ ánh sáng có sẵn, không phải chỉ bằng chất liệu của nhiệt tình cống hiến mà còn bằng chất liệu trí tuệ, năng lực và vốn sống của mình. Phải cắm sâu hơn nữa ngọn cờ của Đảng trong trái tim mình, để giữ vững niềm tin, để vượt qua bao nghiêng ngửa dao động trong những biến đổi của cuộc đời.

Mấy năm đi trong biến đổi và dựng xây, mình đã nhận tra rằng cái vững vàng đích thực của mình không phải là không chứa đựng những dao động, mà là vượt qua được những nghiêng ngửa dao động ấy. Niềm tin mình có được không phải là niềm tin có sẵn, mà là niềm tin mình chắt lọc được từ trong gắn bó phong trào, gắn bó với cuộc sống. Càng sợ cuộc sống, càng xa phong trào, càng bị nó vùi dập, xô đẩy, càng dễ mất mát niềm tin.

Chỉ có trải qua phong trào, đi vào cuộc sống mới làm cho hành trang của mình không quá mong manh, làm cho bản lĩnh nhận thức của mình càng thêm dày dặn, mới có được những hành động biến đổi được cuộc đời, mới có được những cống hiến xứng đáng với tuổi trẻ của mình.

 Photobucket


***

Năm 1980

Có phải ở nơi này, mình lại bắt gặp những bận rộn của phong trào? Những bận rộn kế thừa chiến đấu và nhân lên trong xây dựng, những bận rộn trong sáng,  vô cùng đẹp đẽ của tuổi trẻ vượt lên trên những bận rộn vẩn đục suy tính thấp hèn của cá nhân.

Có phải ở nơi này, những chiều nắng đông vàng sẽ qua để chào đón bóng bình minh của mùa xuân rực rỡ?

Có phải nơi này, những mù sương lạnh lẽo của mùa đông sẽ tan trong mùa xuân nắng ấm trở về?

Có phải nơi này, ánh sáng 50 năm của Đảng lại ngời sáng hơn bao giờ hết trong lòng mình? 50 năm mà đất nước đã qua bao lần chiến thắng, tuổi trẻ đã bao lần chiến thắng!

Ôi biết bao xúc động và tự hào!

Có phải nơi này, mình lại sắp sửa từ giã ngôi trường thân yêu? Lại sắp có bao nhiêu câu hỏi “tại sao, tại sao” hiện ra trong bước ngoặt của cuộc đời! Cái tỉnh táo cách mạng đòi hỏi mình phải nhận ra khoảng cách giữa nhận thức và hành động, phải phân định được biên giới giữa đen và trắng. Cái trì trệ trong lòng thì níu kéo để khoảng cách ấy dài ra, nhiệt tình cách mạng thì thôi thúc phải rút ngắn khoảng cách ấy lại. Ngọn hải đăng trong lòng đang hướng nguồn sáng về phía ý thức cách mạng – Con đường dựng xây sẽ có biết bao điều mới lạ, không thể dừng lại đợi chờ, hãy tiến lên khai phá đi thôi!

Tôi sẽ lại bước chân vào phong trào ở một nơi nào đó. Bước chân ấy sẽ khó khăn hơn vì đôi vai trĩu nặng trách nhiệm của mình nhưng chắc chắn sẽ là những bước chân chiến thắng, như đất nước và tuổi trẻ đã bao lần chiến thắng, vì những bước chân ấy không bao giờ tách rời với bước chân của 10 năm mình đã bước ở ngôi trường này.

 

1/1980

Huỳnh Ngọc Hội


Photobucket

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

(53) Tú Lộc - Chim vàng anh bé nhỏ của tôi.

 Photobucket

Gia Minh nói em bé như cái kẹo, còn tôi nhớ về em như chú chim vàng anh nhỏ, vì em hát rất hay. Giọng em cao vút. Em hay hát bài Tự nguyện “Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng… Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”, và bài gì có câu “Em sẽ hái cành hoa cho chị cho anh cắm lên trời Tổ quốc”. Và tiết mục mà tôi còn nhớ đến bây giờ là Sớ Táo quân, em đóng vai bà Táo, cùng với Nghi Em làm ông Táo.

          Tôi ngồi dưới, làm khán giả, luôn ngưỡng mộ tiết mục của em, yêu thích dáng em nhỏ xinh, áo dài vàng, tóc tém, giọng ca bốc lửa đấu tranh. Những tiết mục đôi, em hay diễn cùng Nghi Em, cậu chàng này vóc dáng cũng nho nhỏ. Trong lòng tôi hay nghĩ, mong ước sao đến ngày hòa bình, Tú Lộc và Nghi Em sẽ là một đôi vợ chồng hạnh phúc. Còn em nếu tiếp tục theo nghề ca hát, tôi chủ quan cho rằng giọng ca của em chẳng kém Mỹ Linh.

          Nhưng đến khi hòa bình thì tôi bặt tin em. Mãi sau này, Gia Minh kể lại, em có chồng, nhưng không hạnh phúc, nuôi con một mình, khổ sở trăm bề, đường công tác cũng gian nan nhiều nỗi. Trong nhóm Văn khoa chỉ có mỗi Gia Minh cho em điểm tựa. Sao thế nhỉ? Tôi có ngờ đâu chim vàng anh bé nhỏ của tôi lại ra nông nổi vậy. Em mặc cảm và em tự trọng, thui thủi một mình đi qua trăm đắng ngàn cay?

          Gặp lại em lần đầu, là 30 năm sau hòa bình, là tận năm 2005. Lúc đó em đã bệnh rồi. Khối u ấy có phải là tích lũy của mấy mươi năm sầu khổ? Em gầy hơn, đen hơn, nhỏ bé hơn, tóc xơ xác. Nhìn em, tôi thương cảm biết bao nhiêu.

          Đám cưới con trai em, nhóm Văn khoa đi đông đủ. Nhìn em gầy ốm liêu xiêu, cố gắng làm cho tròn bổn phận của người mẹ, tôi, và các bạn khác chắc cũng vậy, miệng cười tươi chúc phúc cho hai cháu, nhưng trong tim thì ứa lệ.

          Sau đám cưới con trai em không bao lâu thì em rời bỏ cõi đời.

          Phan Tú Lộc, chim vàng anh bé nhỏ của tôi, tôi nguyện ước cho em, một kiếp sau vui nhiều hơn em nhé !

 





11 Comments
minhtmap wrote on Oct 2
Phan Tú Lộc, chim vàng anh bé nhỏ của tôi, tôi nguyện ước cho em, một kiếp sau vui nhiều hơn em nhé !
Chị ấy đã có 1/2 cuộc đời được sống hết mình và vui cùng anh em bầu bạn trong lý tưởng của mình. Em tin, nếu Chị ấy còn và nghe chúng ta hỏi, chắc chắn sẽ có câu trả lời: Không hối tiếc!
Nhưng em thương quá cái cách Bạn Bè dành tình cảm cho nhau ở entry này trong hai câu cuối...
minhtmap wrote on Oct 2

quenguyenthanh wrote on Oct 2
Nhưng em thương quá cái cách Bạn Bè dành tình cảm cho nhau ở entry này trong hai câu cuối...
Cảm ơn chia sẻ của M. Chị áy náy mãi ko thôi, vì thời gian rất dài em ấy khổ, nhưng dấu kín, ko có dịp nào để đưa cho em ấy một bàn tay.
thunhan wrote on Oct 3, edited on Oct 3
Chị làm em khóc rồi!
Em không biết Tú Lộc, chỉ nghe các bạn nhắc về em ấy
Đọc entry này, em chợt nghĩ : trong cuộc đời, có hay không mình đã bỏ mất dịp để đưa cho ai đó một bàn tay?
Mà, càng suy nghĩ, càng thấm thía lời chị nói "ta hối hả yêu thương nhau" để mai này không hối tiếc!
thunhan wrote on Oct 3
Tú Lộc của chúng ta đây chăng?

Photobucket
thunhan wrote on Oct 3, edited on Oct 3
Ngày xưa, Tú Lộc như thế này chăng?

Photobucket
giaminh03 wrote on Oct 3
Bạn tội nghiệp của tôi! Ở một nơi nào đó bạn hãy mỉm cười nhé. Và hãy hát như ngày xưa "chim vàng anh" đã hát...
quenguyenthanh wrote on Oct 3
thunhan said
Ngày xưa, Tú Lộc như thế này chăng?

Photobucket
Đúng, hình ảnh này của Tú Lộc trong lòng chị đấy
quyan wrote on Oct 3
"Kỉ niệm không là gì khi lòng người vội xóa. Nhưng sẽ là tất cả khi tim người mãi ghi". Từ rất lâu con đã thích câu nói này. Khi đọc entries của các Cô con càng cảm nhận rõ ý nghĩa của nó.
Con chia sẻ cùng Cô...Mong cô ấy thanh thản ở thiên đường.
gioheomay wrote on Oct 3
Bỗng dưng nhớ áo lụa vàng
Nhớ sao tiếng hát mênh mang tơ trời
Áo xưa khuất chốn chơi vơi
Tiếng chim còn lại hót lời nhớ thương..

Lại thêm câu chuyện về một người Văn Khoa ...đã xa .

Đọc tiếp ...

(52) Người Văn Khoa - Người Sài Gòn


Vào những năm phong trào sinh viên tranh đấu, có rất nhiều sinh viên tuy không trực tiếp tham gia nhưng đã âm thầm làm "hậu phương vững chắc". Và chính họ, đã cùng gia đình trở thành điểm tựa an toàn, góp phần tích cực cho phong trào.
Người Văn Khoa giới thiệu ở đây kỉ niệm ân tình của chị Huỳnh Quan Thư với một người bạn học và gia đình - những người Sài Gòn thân thương.
(Lẽ ra, bài viết này đến với mọi người sớm hơn, nhưng phải chờ chị Thư tìm hình chị Ngọc Yến. Hình ngày xưa nên bị úa vàng, NVK đính kèm theo đây, bao giờ chỉnh được đẹp hơn thì sẽ thay.)

Photobucket

 


 

 

Năm học 1966-1967, sau bầu cử, tôi trở thành “Lớp trưởng” lớp Sử Địa. Tuy sinh viên ghi danh rất đông, nhưng có mặt thường xuyên ở giảng đường chỉ khoảng 150 bạn. Song song với việc học, tôi luôn cố gắng làm tốt nhiệm vụ đại diện của mình, phục vụ thiết thực quyền lợi sinh viên. Vì thế, tôi được các bạn thương yêu quan tâm , không khí lớp học rất vui tươi, chan hòa và đầm ấm.

 

Sau vài tháng học tập, tôi chú ý đến một người: đi học rất đều, ăn mặc sang trọng, phấn son chu đáo, nổi bật hẳn so với đám hơi quậy của chúng tôi. Bạn ấy rất ít nói và hầu như không thân thiện với ai. Gặp nhau hằng ngày, nhưng tôi dè dặt. Rồi một lần, tôi khẻ chào: khỏe không? Thật bất ngờ, bạn mỉm cười nhìn tôi thân thiện.

Thế là một tình bạn bắt đầu. Bạn tên Huỳnh Ngọc Nữ, nhưng vẫn thường được gọi thân mật là Ngọc Yến – Yến của tôi đó.

 

Sau lần tổ chức du khảo núi Châu Thới, Yến chủ động hỏi địa chỉ nhà và hẹn sẽ đến chơi, tôi trao địa chỉ cho bạn cùng với sự hoài nghi bạn chỉ xã giao. Không ngờ, đúng hẹn, bạn đến và trò chuyện rất tự nhiên, cởi mở. Không biết “đánh hơi” về tôi thế nào, trong câu chuyện

đột ngột Yến cho biết đại gia đình bạn tham gia chống Pháp trở về và nhiệt tình mời tôi đến thăm nhà.

 

Lần đầu tiên đến nhà, bác trai Huỳnh Công Khanh và bác gái Nguyễn Thị Đệ cùng chị Huỳnh Ngọc Anh tiếp tôi thân mật, ân cần như người thân của gia đình, để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và tình cảm đậm đà không thể nào quên.

 

Từ đó, mặc nhiên, gia đình bạn nuôi chứa tôi hoạt động cho đến ngày giải phóng.

 

Yến lớn hơn tôi hai tuổi, nhưng chúng tôi cứ gọi nhau bằng tên. Hai chúng tôi cứ thủ thỉ tâm sự với nhau đủ mọi thứ trên đời, và không hề giấu nhau điều gì: tình yêu, thi cử, học tập… Nhưng công tác của tôi, không bao giờ bạn hỏi, mà cứ lẳng lặng  hổ trợ hết mình. (lần đến nhà thầy Nguyễn Ngọc Th trong bài “Bé cái lầm” là một thí dụ, tôi sẽ nói sau)

 

Hai Bác và chị Ngọc Anh, nguyên là nhân viên Chi cục thống kê Sài Gòn dành cho tôi một tình thương đặc biệt, âm thầm chăm sóc bảo bọc tôi chu đáo, tự nhiên. Mỗi lần đến nhà, chỉ có bác trai và tôi có tiêu chuẩn điểm tâm phở, hủ tiếu, bánh cuốn…Luôn nhớ mình là cán bộ cách mạng, cùng với sự giáo dục chu đáo của ba má tôi, đến đâu tôi cũng thực hiện “ba cùng”  nhưng bác gái và chị Ba không cho tôi động tay :

- Thư đi nghỉ đi, “làm việc” mệt rồi, để bác, để chị làm cho, có gì đâu…

 

Một lần, Bác trai tâm sự “Cháu đã hy sinh, lo việc nước, bác và gia đình có trách nhiệm ủng hộ, giúp đỡ cháu hoàn thành nhiệm vụ”

 

Đơn giản và bình thường vậy thôi, nhưng thấm đẫm bao nghĩa tình!

 

Còn nhớ, sau lần tôi và chị Trần Thị Ngọc Hảo, Phó chủ tịch Tổng hội sinh viên, họp báo ở số 4 Duy Tân (nay là Nhà Văn hóa Thanh niên), phản đối Thiệu-Kỳ bắt giam anh Võ Trường Cổn vì bài thơ “thân Cộng” trên báo Sinh viên của Tổng hội, tôi bị cảnh sát theo dõi ráo riết. Tối đó tôi không về nhà, 11g30 tôi lên nhà hai Bác, nghe

tiếng xe tôi, Bác trai nhanh nhẹn nhốt chó, khẻ mở cửa, đẩy nhanh tôi vào nhà:

- Vô giường Yến đi, để xe Bác dẫn cho.

Một đêm bình yên trôi qua, tôi đã đánh một giấc ngon lành. Sáng ra hai Bác nhìn tôi trìu mến :

- Hồi hôm, tụi nó rượt con Thư.

 

Sau đợt 2 tổng tấn công Tết Mậu Thân, thấy tình hình an ninh của tôi căng thẳng, bác trai bố trí cho Yến đưa tôi ra Vũng Tàu quê bác lánh nạn một thời gian. Tại đây tôi lại được đại gia đình Bác chăm sóc, bảo vệ : cô Ba, cô Tư, chú Sáu, cô Bảy, rồi các em Cúc, Hương, Huê… tôi trở thành là đứa cháu ruột trong nhà. Đến giờ, tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên đến, cô Bảy đãi bữa cơm canh chua khô cá trích mà có lẽ suốt đời tôi khó có thể tìm lại cái hương vị ngon lành ấy! Còn cô Ba thì nấu đồ chay rất ngon!

 

Một lần khác vào cuối năm 1969, tôi ra tù, các sinh viên phong trào bị theo dõi hết sức gắt gao, tôi khăn gói lên nhà Bác ở thường xuyên hơn. Mờ sáng phải đi công tác, đích thân Bác trai đưa tôi đi theo những con đường ngang ngõ tắt ngoằn ngoèo để ra đường lớn, tránh sự theo dõi của bọn an ninh. Tôi đi, ngoái nhìn lại vẫn thấy bác dõi theo lo lắng, băn khoăn…

 

1972 rồi 1974, hai lần tôi về sanh con, nhà hai Bác vẫn là nơi tôi lui tới. Lần sanh cháu thứ hai, bác gái và chị Ba lặn lội đến Nhà Bảo sanh thăm hỏi với bao nhiêu là bánh trái, cả hột gà nữa, mà bác và chị nào có khá giả gì đâu !

 

Ngày 15-4-1975, anh Lê Quang Lộc, chồng tôi hy sinh trên đường về Giải phóng thành phố. Sự mất mát quá lớn vào những ngày kề cận Hòa bình làm tôi như mất thăng bằng. Tôi lao vào công tác, bất kể giờ giấc, ngày đêm nên ít lên thăm hai Bác và gia đình. Thương biết bao nhiêu, hai bác cứ trông tôi đến như ngày nào, còn tôi, như cánh chim trời, cứ bay đi mà chưa vội quay về

 

Ngày mồng 9-7 âl 1976, Bác trai đột ngột ra đi vì cao áp huyết, tôi xin phép ba má tôi để tang cho Bác với nỗi ân hận xót xa, nhưng tôi tin rằng, Bác trai với tấm lòng độ lượng bao dung, chắc chắn đã hiểu và thông cảm cho tôi chưa kịp đáp đền ơn nghĩa chớ đâu phải kẻ vô tình. Tôi vẫn là đứa con trong gia đình, thường xuyên đến với Bác gái, chị Ba và Yến hơn.

 

Sau khi ra trường, Yến dạy học trường Trung học Chi Lăng (hiện nay là trường Hà Huy Tập) chồng bạn, anh Võ Ngọc Phước, người bạn trai ngày ấy Yến vẫn tâm sự với tôi, hai đứa con chính là kết quả tình yêu đằm thắm từ thuở học trò.

Và chúng tôi, sau bao nhiêu thăng trầm, vẫn gắn bó như ngày nào. Đám giỗ Bác trai, sinh nhật hai con Yến, tôi đều có mặt. Vẫn là tình thân tự bao năm!

 

Ngày vui qua mau, ngày19-8 âl 1979, Yến của tôi ra đi đột ngột vì bệnh tim, căn bệnh đã làm khổ bạn từ những năm1958 - 60. Chị Ngọc Anh thay Yến, nuôi hai cháu. Và tôi, người bạn thân của Yến, người dì của hai cháu Anh Kiệt, Bảo Trân, vẫn luôn dặn lòng giữ trọn mối ân tình.

 

Bác gái rồi cũng ra đi năm 2002 sau một cơn đột quỵ

 

Người tốt vẫn thường hay gặp nạn chăng? Chị Ngọc Anh hiện mang bệnh nan y. Nhưng may là cháu Trân và chồng được một người học trò cũ của Yến là cô Trần Thị Tuyết Hoa - Phó Tổng Giám đốc Saigon Co.op, tạo điều kiện vào công tác tại một siêu thị trong hệ thống từ hơn 10 năm nay. Bạn tôi chắc cũng tạm yên lòng nơi cõi ấy.

 

Ngày 9-7 âl vừa qua, về dự giỗ Bác trai, nhìn ảnh hai Bác, biết bao kỷ niệm xưa tràn về, trong tôi dậy lên nhiều nỗi nhớ.

 

Rồi hôm nay 19-8 âl, lần giỗ thứ 32 của Ngọc Nữ - Ngọc Yến của tôi…

Bồi hồi nhớ bạn, mấy dòng này là tất cả lòng thương nhớ và biết ơn của tôi đến người bạn Văn Khoa, đến hai Bác, đến người Chị SàiGòn.

 

Người Văn Khoa là như thế đó .

Người Sài Gòn là như thế đó.

Thương biết mấy, tự hào biết mấy !

 

Huỳnh Quan Thư

Sàigòn - TP Hồ Chí Minh,

ngày 16-9-2011 (19-8 âl)

 

 

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

(51) Tháng Mười - Nhớ một cánh Phượng Văn Khoa




Photobucket

 
Ngọc là tên thật của cô ấy.
Khi xuất hiện ở VK năm 1966 cô lấy tên Phượng. Hình như đó là tên người yêu.
Phượng ốm yếu mong manh,nước da xấu, hậu quả của bịnh sốt rét sau những chuyến giao liên về căn cứ? Chỉ có đôi mắt đẹp. Phượng kẹp tóc,đi xe đạp, thường mặc áo dài trắng hơi củ khi đến VK.

Niên khóa 66-67 rất đặc biệt với trường VK. Đó là thời điểm lực lượng tranh đấu đã mạnh nhưng chưa đủ mạnh để nắm Ban chấp hành. Trụ sở nhóm Nhân Văn lúc đó là nơi lui tới thường xuyên của các nhóm nòng cốt. Phượng đến lặng lẽ, ít nói, làm mọi việc không tên.
Với chúng tôi Phượng là hình ảnh của cô gái Nam Bộ dịu dàng, chịu khó, nhẫn nhịn.
Một buổi chiều Phượng đến trụ sở NV. A!....bắp nấu. Đám nam nhi hăng hái "cạp" bắp.
Chợt có người hỏi:
- Sao Phượng im ru vậy, ăn bắp đi.
Lúc đó mọi người mới chú ý đến "hiện tượng lạ".Phượng mặt buồn hiu,nhỏ nhẹ:
- Em nói mấy anh nghe. Hồi nãy...
Trời đất, mới nói đến đó Phượng đã..khóc tấm tức. Thì ra ràng bắp sau port-bagages, giữa đường sút dây ràng, bắp"rụng", chật vật xoay trở Phượng mới "đưa" được bắp về !
- Mấy anh không ai hỏi 1 tiếng, lo ăn không hà !
- Phượng không nói, ai biết mà hỏi.
Chúng tôi chợt nhận ra mình vô tâm, xúm vào an ủi, chọc ghẹo. Và... lát sau Phượng hiền lành nở 1 nụ cười, mắt vẫn tròn xoe, ướt lệ.

Đột nhiên Phượng không đến trường nữa.
Công việc cuốn mọi người đi. Đôi lúc chợt nhớ, băn khoăn rồi thôi.
Mãi sau này tôi mới biết Phượng là giao liên chắp nối tổ chức Cách Mạng ở VK với anh 3 Triết, bí thư Thành Đoàn. Phượng ghi danh học để có cớ hợp pháp đến trường. Phượng không đến nữa vì chuyển đổi công tác. Trong 1 lần vượt sông trong chiến khu Phượng bị tàu địch phát hiện và đã hy sinh.

Hai mươi năm sau 30.4.75, chúng tôi mới biết Phượng có con gái. Cháu giống mẹ như đúc và cũng ốm yếu. Phượng gởi con cho người chị lúc cháu nhỏ xíu. Cháu bây giờ đã có gia đình. Cuộc sống khó khăn,cháu cũng phải bươn chải vất vả. Điều cháu day dứt là cha đã hy sinh trong tù. Bên nội không nhận cháu vì không biết gì chuyện tình của ba với mẹ. Mối tình éo le, ngang trái của Phượng ôm xuống tuyền đài có lẽ chưa tan. Cách đây mấy năm cháu đến thăm vợ chồng tôi. Cháu nói bên nội không nhận con cũng được thôi dì dượng ơi. Con mệt mỏi quá rồi...

Phượng ơi, biết kết thúc câu chuyện về Phượng thế nào đây khi nước mắt đã trào và lòng xót xa... 

Huỳnh Thiện Kim Tuyến-Nguyễn Tuấn Kiệt
Đọc tiếp ...

(50) Tháng Mười - Lời của những đứa con



Bạn đã đi xa nhưng vẫn luôn hiện diện trong tình thân của những người ở lại,
Với gia đình, bạn mãi là hoa hướng dương,
Các con b
ạn đã dặn lòng "Tụi con sẽ cố gắng sống như Ba đã từng sống..."
Người Văn Khoa lưu lại nơi này đôi lời của cháu Hải Âu và vợ



Photobucket

 ...Sắp tới ngày 4-7 rồi, lại một mùa thi đến, cầu chúc cho các sĩ tử đạt được kết quả mong muốn. Đường đời còn dài ở phía trước, các bạn hãy tự tin, và cũng luôn nhớ rằng đại học không phải là con đường duy nhất để thành công. Cái căn cơ của một người muốn thành đạt, đó là học làm người… (cái này Ba tôi dạy)

Nhắc đến sự kiện này không thể không nhắc đến Ba.

Ba tôi rời quê lên thành phố với hai bàn tay trắng, tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên, bị bắt rồi bị tù đày. Ngày giải phóng cũng là ngày bộ đội vào xà lim dìu Ba tôi ra. Từ đó, Ba tôi một tay gầy dựng sự nghiệp, tuy không giàu có, nhưng cũng đã đón được mẹ con tôi từ quê vào. Và kể từ đó, năm nào nhà tôi cũng có người vào ở trọ thi là vậy.

Thế rồi một mình Ba bươn chải để lo cuộc sống cho cả gia đình, tất nhiên, cũng không thể thiếu công sức của Mẹ tôi.

Rồi Ba có được nhà cửa, một gia đình ấm áp, và địa vị.

Nhưng Ba không dừng lại, Ba tiếp tục học thạc sĩ ở cái tuổi 50, với mong muốn về hưu sớm để được đi dạy, thư giãn lúc tuổi già, một phần để các con noi gương ráng phấn đấu, một mặt để lớp trẻ lên quản lí vì Ba cảm thấy mình tụt hậu, không còn sung sức như đàn em. Ba thường tâm sự “lớp trẻ họ có sức, có tài thì để họ phát huy, mình già rồi, cứ ngồi hoài ở đó chẳng khác nào cản đường người tài…”. Ba tôi là vậy, không bon chen, không vụ lợi, sống lúc nào cũng nghĩ đến cái chung của mọi người.

Ngày 4-7-2006, ngày đám cưới chúng tôi, Ba ho rất nhiều, nhưng Ba vẫn không chịu đi bệnh viện, Ba nói sẽ cố gắng lo tổ chức đám cưới cho hai đứa trước rồi tính. Đám cưới diễn ra trọn vẹn tốt đẹp, hai bên gia đình đều hoan hỉ.

Ngày chúng tôi đi chơi vui trăng mật về là được tin Ba đã nhập viện. Hai ngày sau, cả nhà tôi đón tin dữ, Ba tôi bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Ngay tại bệnh viện, vừa biết tin xong, tôi vẫn không ngờ đó là sự thật, và nghĩ cũng không có gì, chắc sẽ qua, vì tôi đã quen thuộc với cảm giác có Ba trên đời, hay tại vì lúc đó tôi cố giữ bình tĩnh để không làm mọi người xao động. Thế nhưng trên đường về, nước mắt cứ tự nhiên tuôn trào, rồi tôi và vợ tôi ôm nhau khóc, khóc suốt trên quãng đường từ bệnh viện về đến nhà.

Bốn tháng sau, Ba tôi mất. Ngay cả lúc hấp hối, Ba còn dặn dò cô nấu bếp ráng lo ăn uống chu toàn cho mọi người đến thăm. Ba nhắn nhủ tụi tôi phải cố gắng đùm bọc lẫn nhau, ráng sống sao cho bà con thương mến.

Suốt cả cuộc đời Ba hy sinh cho mọi người, cho gia đình. Ba ra đi quá sớm, chưa kịp tận hưởng những thú vui trong cuộc đời, chưa kịp đi hết mọi miền đất nước, chưa kịp hoàn tất những điều Ba mong ước.

Ba ra đi quá sớm, chưa kịp nhìn thấy cháu trai Bo và cháu gái Minny của Ba.

Ba ra đi quá sớm, chưa kịp nhìn thấy tụi con đã cố gắng sống và phấn đấu như Ba. Tui con vẫn yêu thương nhau, vẫn đùm bọc nhau, anh em trong nhà sống chan hoà với nhau, và tụi con hứa sẽ giữ mãi như vậy, như Ba từng nhắn nhủ.

Tụi con sẽ cố gắng sống như Ba đã từng sống..."

Hải Âu

 

BA ƠI!

Con tiễn đưa Ba một ngày không mưa
Sao nghe nhạt nhoà cả đất trời cỏ lá
Dòng người trên phố dường như thôi vội vã
Nén chút ngậm ngùi phút mặc niệm tiễn thương

Yên nghỉ nghen Ba, nơi ấy thiên đường
Nơi vĩnh hằng của an nhiên tự tại
Nơi không lo âu, muộn phiền, sầu ải
Con khẽ hát thầm cho giấc ngủ Ba sâu

Mỗi bước chân đi chùn lại một nỗi đau
Từng dòng lệ đong đầy thêm nỗi nhớ
Tình Ba đó ấm nồng như hơi thở
Chợt nghe tim mình thổn thức gọi: "Ba ơi"

 Bội Hoàng
Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

(49) Tháng Mười - Có những ước mơ ... chưa chắp cánh



Photobucket

Bây giờ là mùa Thu (cứ tạm gọi như vậy, dù Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa nắng), mưa thưa dần, sáng sớm đã bắt đầu có những cơn gió sang mùa gợi cho ta nhiều nhớ thương, tâm tư lắng đọng.

 Năm ấy…Huỳnh Ngọc Hội ra đi mãi mãi vào tháng 10. Hôm nay, tôi xin được nhắc lại những câu chuyện về người bạn vô cùng thân thương ấy.

 Trước 1975, tôi biết chứ không quen thân Hội vì Hội thuộc đoàn công tác xã hội mà tôi, chủ yếu, chỉ tham gia hoạt động báo chí. Nhưng tôi cũng hân hạnh được đi dự đám cưới của hai bạn Hải - Hội và cũng được nghe loáng thoáng đây là lễ tuyên bố. Lúc ấy, tôi thật sự không biết “tuyên bố” là gì hết nên lòng cũng nôn nao chờ đợi. Quả thật, đây là một đám cưới mà tôi được dự lần đầu, không tiệc tùng linh đình mà có cái gì đó lạ lắm, tôi ngây thơ nghĩ rằng: chắc như vậy là “tuyên bố”! Cô dâu mặc áo dài màu đỏ (đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ), chú rể mặc áo sơ-mi trắng (không có áo veste) và hình như lúc đó, chúng tôi chỉ được ăn bánh, uống nước (không ăn tiệc mặn), hát nhạc phong trào, và, đúng như chị Quế “tổng kết”: rất vui. Tôi thì nhớ là lễ được tổ chức tại Thủ Đức, trong một gian nhà rộng, đủ để chúng tôi “quậy” và có những cảm nhận tốt, những điều không thể quên về 1 lễ “tuyên bố” mà thật sự, ở thời điểm đó, chúng tôi chưa hiểu hết ý nghĩa và cũng không dám hỏi ai để mà tìm hiểu thêm.

 Sau hòa bình, tôi ít có dịp gặp Hội. Trong một lần họp mặt ở nhà chị Quế (lúc chị còn ở đường Hoàng Sa), không biết ai đó hỏi thăm thì tôi nói con gái đang học tiếng Nhật ở ĐH KHXH&NV. Hội vui mừng cho biết đang cần 1 người phiên dịch tiếng Nhật cho Savimex vì công ty làm việc với đối tác Nhật. Thế là con gái tôi “nghiễm nhiên” trở thành người phiên dịch cho chú Hội. Công ty ở gần Hóc Môn, con gái tôi được chú ghé ngang đón để cùng đi làm với chú, trưa được về để chiều tiếp tục đi học. Lương trả bằng tiền đô, lúc đó, đối với mẹ con tôi là điều không dám mơ ước. Nhưng con gái tôi chỉ làm được vài tháng rồi xin nghỉ và giới thiệu một người bạn của nó vào làm thay. Mãi đến bây giờ tôi mới dám “công khai” lý do con gái ngưng làm việc ở Savimex. Con tôi nói: chú Hội hiền quá mà mấy ông người Nhật vốn rất nguyên tắc và xem trọng giá trị, chất lượng của sản phẩm nên họ nói nặng lời, rất khó nghe, con không dám dịch nguyên văn vì thấy tội nghiệp chú Hội. Mà khi họ đã nói, mình không sửa thì cũng không xong với họ, con khó xử quá nên con đã nói với chú con phải tập trung học, không có nhiều thời gian để đi làm. Tôi nhắc lại câu chuyện “bây giờ mới kể” này, không nhằm mục đích phê phán ai, cũng không kết luận ai đúng/sai, chỉ muốn nó rằng: quả thật, Hội rất hiền lành, như chị Quế và chắc chắn nhiều bạn khác cũng nhìn nhận.

 Tôi đã được dự kỷ niệm ngày cưới của hai bạn Hải-Hội được tổ chức tại một nhà hàng, trang trọng và ấm cúng. Trong chúng tôi, không phải chỉ có Hội mới trải qua mấy chục năm chung sống, nhưng quả thật, đây là lần đầu, chúng tôi dự kỷ niệm ngày cưới. Vui mừng chia sẻ cùng bạn. Trong tôi, chỉ còn đọng lại nhóm từ: “má của chúng tôi” trong những lời phát biểu của Hội. Tôi biết, với Hội, người mẹ cả đời vì con ấy, quan trọng biết chừng nào.

Chính Hội là người đã đưa ra ý kiến cùng nhau làm Kỷ yếu Văn Khoa để ghi lại những kỷ niệm đáng nhớ. Tôi hăng hái hưởng ứng và năm đó, tôi đã khai bút ngay mồng 1 Tết với bài viết: “Hơn ba mươi năm vẫn nhớ”, nhưng rồi, lâu lâu sau gặp lại, hỏi thăm mới biết, Hội chỉ mới nhận được bài của Minh An, Thu Nhân và tôi (cũng có thể có những bài khác nữa mà tôi chưa biết). Và với số bài ít ỏi như vậy thì Kỷ yếu chưa thể ra mắt.

Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, ước mơ ấy chưa thành hiện thực. Gặp nhau, đặc biệt là sau khi Hội đã đi xa, chúng tôi vẫn nhắc để mà thương, để mà quý một người bạn. Và mãi cho đến khi Góc nhỏ Văn Khoa ra đời, chúng tôi mới dám nghĩ mình đã làm một việc mà chắc chắn Hội sẽ rất vui.

 Trong một lần khác, họp mặt tại nhà chị Q khi chị đã dọn về đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tôi mới biết Hội đang theo học chương trình sau đại học. Tôi cũng đang học, tuy khác ngành nhưng vẫn có những môn cơ sở giống nhau. Thỉnh thoảng, có hỏi thăm nhau tài liệu, động viên nhau vì ai cũng vừa đi làm vừa đi học nên lắm gay go. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi được nghe Hội chia sẻ: đi học tiếp để chuyển nghề: thích đi dạy hơn là đi làm công ty, vì lúc ở trường Đoàn, Hội có dạy nhiều. Tôi vẫn nhớ Hội khẳng định: đi dạy vui và thích hơn nhiều, tưởng tượng một ngày nào đó, được vào lớp dạy, “sướng” gì đâu! Đi làm bon chen lắm!

Tôi viết những dòng này mà cay mắt, nhớ giọng nói chậm rãi, hiền lành của Hội, nhớ những gì con gái đã nhận xét về “chú Hội” (lúc ấy là Phó Giám đốc) trong thời gian ngắn ngủi được làm việc ở Savimex. Ước mơ ấy tầm thường và đơn giản như người bạn chân tình của tôi nhưng rồi…ước mơ cũng bay xa mãi với người…Bạn chưa được ôm tập sách và trở lại bục giảng như bạn mơ ước dù tấm bằng Thạc sĩ bạn đã có rồi. Ngày bảo vệ xong, bạn cũng có báo tin cho tôi.

 Sau đám cưới Hải Âu, chúng tôi hẹn nhau đến Trung tâm y tế Q.8 để thăm Tú Lộc, lúc ấy, Hội đã bắt đầu húng hắng ho. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy trời vừa tối là Hội kéo cổ áo cao, cài nút cẩn thận, tôi đã định trêu chọc, nhưng nghe bạn bệnh nên tôi không dám. Chuyện rồi cũng qua đi. Thời gian ngắn sau đó, Âu đến nhà giúp tôi  vì có trục trặc khi nối mạng, Âu nói ba con đang nằm BV Nguyễn Trãi vì bị tràn dịch màng phổi. Chúng tôi lại hẹn nhau đi thăm, còn đùa vui: sao nhõng nhẽo với vợ hoài vậy? Bạn vẫn tươi cười và chúng tôi không thể ngờ tai họa đang đến…Những ngày tiếp theo, bệnh diễn biến nhanh, vào ra bệnh viện liên tục, thuốc tây rồi ta…Hải đã chính thức thông tin với chúng tôi bệnh của Hội. Tôi nghĩ hiền lành, tốt bụng như Hội mà sao lại…Có một lần, nghe Hải nhắn Hội đang xuống tinh thần, chúng tôi vào ngay, nói cho bạn cười mà tim ai cũng thắt lại. Ngồi xung quanh nhau (dưới đất, chúng tôi đông quá, làm sao có đủ ghế ngồi), anh Kiệt “tổng kết”: hồi đó, gặp nhau bàn chuyện xuống đường, rải truyền đơn, mấy chục năm sau, gặp lại, toàn kể về bệnh tật, bày nhau cách chữa bệnh này, bệnh nọ…

 

Sau đó, thỉnh thoảng, bạn vẫn liên tục vào-ra bệnh viện, có khi chúng tôi chưa kịp vào thăm...Cho đến một buổi chiều, chúng tôi hối hả đi đến phòng hồi sức, Hội vẫn nhìn chúng tôi nhưng mắt không còn thần sắc, với mỗi bạn, Hội nói một câu khác nhau, không còn sáng suốt nữa và chúng tôi hiểu, điều đau đớn sắp xảy ra. Lúc đó, đã hơn 22g, tại cái băng đá của BV, chúng tôi đã bàn tính mọi việc với Hải, tôi nhớ mà thương Hải xót xa: “Bây giờ em còn tỉnh nên dặn như vầy…”. Điều mà chúng tôi ái ngại nhất là cho đến lúc đó, bà mẹ vẫn không biết đứa con trai duy nhất của bà đang mang bệnh ngặt nghèo. Chúng tôi sợ bà không chịu đựng nổi, phải nói như thế nào đây…và ai sẽ là người nói…?

 Hội ở lại BV thêm 1 ngày nữa, vẫn còn tỉnh táo và nói với anh HTM: “Xin cho em về nhà”. Lúc này, ai cũng muốn làm theo ý của Hội. Chiều hôm đó, Hội về nhà như nguyện ước. Tôi đến nơi thì Hội vừa ra đi, chỉ còn kịp nghe Hải gọi: “Anh Hội, anh Hội…” nhưng Hội đã xuôi tay. Chị Hồng Diệp kể lại: trước đó mấy phút, Hội vẫn tỉnh táo, nói chuyện nhiều lắm rồi mới từ bỏ mọi người. Tôi nắm chặt hai bàn tay, lấy lại bình tĩnh rồi bước ra ngoài gọi điện thoại cho anh Kiệt, cho chồng tôi và Minh An. Anh Kiệt đang trên đường đến, Minh An nghẹn ngào…chồng tôi và con gái tất tả đi…Chúng tôi biết trước điều này rồi sẽ đến nhưng ai cũng sợ…Hải bảo vừa cho bà mẹ biết bệnh của Hội sáng hôm đó vì sợ khi mang Hội về, bà không đủ sức chịu đựng.

 

Tại Nhà tang lễ Lê Quý Đôn, tôi nhìn đôi mắt buồn rười rượi của anh trên di ảnh, nhớ đến giọng ngâm thơ trong Nha Cảnh sát Đô thành năm 1972, nhớ những ước mơ chưa được chắp cánh của anh, nhớ tấm lòng của anh, nhớ những điều tôi đã nghe anh chia sẻ…Nước mắt chảy thành dòng, tôi ngậm ngùi thắp nhang tiễn anh. Bà mẹ ngồi lặng yên ở một góc, nhìn mọi người đi viếng tang, nghe anh Kiệt thay mặt phong trào đọc điếu văn, bà không còn sức lực để nói điều gì cả nhưng tôi thấm thía lắm nỗi đau “tre khóc măng”.

 

Những ngày gần đây, nhận được thông tin của Hải Triều rồi Hải Âu trong hai lần khác nhau, tôi đều lặng người đi một chút vì xúc động. Vậy là, cuối cùng, các con cũng đã về nhà Văn Khoa. Nơi ấy, ba của các con vẫn luôn hiện diện cùng các cô chú.

 

Tôi tưởng tượng đến những cánh diều, bay cao, bay xa. Những ước mơ, dẫu chưa kịp thành hiện thực nhưng vẫn rất sáng, rất trong, rất đẹp và…cho dẫu đến bao giờ, trong chúng tôi, Huỳnh Ngọc Hội vẫn là người bạn mà chúng tôi mãi trân quý, yêu thương.

Trân Thúy

Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

(48) Tháng Mười - Nhớ Huỳnh Ngọc Hội

 Photobucket

(Thân mến tặng Hải, H.Âu, H.Triều, H.Ngân)

 

Tới giờ, nét tôi nhớ Hội nhất là đôi mắt, rất đen, mi rất dày, đẹp như mắt con gái vậy. Mỗi lần nhìn Hội, tôi hay nghĩ thầm nếu có cô gái nào yêu Hội, chắc chắn bắt đầu yêu từ đôi mắt ấy.

 

 

          (Phải vậy không Hải ơi?).

 

 

Mỗi khi sắp nói điều gì hơi quan trọng, thì hai con mắt ấy chớp chớp nhiều hơn bình thường, làm tôi tức cười, và hay ghẹo Hội : trời ơi nhõng nhẽo !

Hội đặc biệt hiền lành, có lẽ tôi chưa từng gặp ai hiền như Hội vậy. Chưa bao giờ tôi nghe Hội nói mặn nói tục, lời ăn tiếng nói chưa từng tìm cách hơn thua ai. Hội hay cười, nụ cười tươi vui ngược lại với đôi mắt đẹp và buồn.

Hội đặc biệt lo cho nhóm VK trẻ, và cũng hợp tác tốt với nhóm VK già. Những ngày còn có Hội, chúng tôi vui lắm. Hội là người đứng ra, người  gánh vác nhiều nhất các cuộc họp mặt, thăm viếng, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn của nhóm. Đương nhiên cũng là người tốn xu nhiều nhất. 8/3 năm nào, chúng tôi – đám nữ – đều được Hội đãi đằng, ăn uống mặn ngọt phủ phê. Mở ngoặc một cái, chúng tôi nhớ Hội nhiều đến vậy, không phải tại được Hội “cho ăn” nhiều đâu nhen. Mà bởi vì dưới con mắt thiển cận của tôi, Hội thực sự là người Văn Khoa có trái tim yêu thương đặc biệt dành cho bè bạn.

Sau 1975, tôi không nhớ hết những công việc Hội đã làm. Chỉ nhớ lúc Hội làm việc ở Trường Đoàn, thì tôi cùng với ba tôi có đến thăm Hội, ở Thủ Đức, một căn phòng nhỏ đơn sơ.

Khi Hội về Văn phòng Thành Đoàn, tôi gặp Hội thường hơn, vào cuối mỗi tuần, trong cuộc họp giao ban của một cơ quan thành phố, nơi tôi làm việc. Sau này, khi quá tuổi công tác Đoàn, Hội hỏi tôi có nên không, khi muốn chuyển công tác về cơ quan thành phố ấy, nhằm lúc tôi sắp rời khỏi cơ quan chuyển đi quận 5. Nghe góp ý của tôi, Hội về Savimex và có những thành công ở đó.

Tôi cùng các bạn dự đám cưới Hội-Hải, nhưng đã quên gần hết chi tiết, chỉ nhớ dường như là trước 1975, ở nhà của ai đó, ghế bàn dọn trên một chỗ giống như là bãi cát bờ biển vậy. Còn nhớ Nghi Em giỡn hớt hát bài gì có câu “… xức dầu hôi cho hôi …”. Khi chúng tôi gặp nhau, là vui là rất vui, với những tràng cười vui không dứt …

Hội có hai con trai, Hải Âu, Hải Triều, những con cháu của miền biển Việt nam. Chắc là thèm có con gái quá, nên Hải sinh Hải Ngân hơi muộn, nhỏ hơn hai anh nhiều. Tôi cũng có công chạy trường gởi Hải Ngân vào Tuổi Thơ 7, đường Trương Định, để Hải tiện đường đưa đón cô bé con xinh xắn khi đi làm từ nhà Nguyễn Đình Chiểu đến nhà in Thanh niên ở Trần Quang Diệu.

Có chút công lao như vậy, tôi thường được Hội và Hải cho ăn nước mắm Phan Thiết, và bánh cốm đặc biệt gói bằng giấy hoa rất đẹp, tôi chưng ở bàn thờ suốt mấy ngày Tết.

Như Gia Minh nói vậy, Hội hiền lành bao nhiêu thì đặc biệt gan lì bấy nhiêu. Chúng tôi (Hội, Nghi Em, tôi và nhiều bạn khác) bị bắt và tra tấn ở bót quận 1, Mạc Đĩnh Chi. Ngày bị đưa qua Nha Đô Thành, chúng tôi được đi chung xe, ba chị em ngồi sát liền nhau, tranh thủ thống nhất cung, Hội đã gánh hết trách nhiệm người đứng đầu “Ủy ban đấu tranh chống đàn áp bắt bớ sinh viên học sinh và đòi cải thiện chế độ lao tù”, nên nhận hình phạt nặng hơn. Tôi không nhớ Nghi Em sau đó ra sao, còn Hội bị đày ra Côn đảo, tôi về một xóm nhỏ ở Bạc Liêu làm thợ may, bán nước giải khát, tránh không ra tòa án theo một trát đòi.

Sau 1975, tôi đi học lại lấy một bằng đại học khác, rồi đi làm, cuốn theo công việc và đời sống lam lũ nhọc nhằn – mười con heo và hai trăm con gà thịt. Lần đầu tiên gặp lại nhóm Văn khoa là tại trường đại học Khoa học xã hội nhân văn, là do Hội triệu tập và chủ trì.

Đọc bài viết nhớ các bạn của Gia Minh, tôi không cầm được dòng nước mắt. Chúng tôi mỗi người một dòng đời, biết đâu được sẽ ai mất ai còn, vào lúc nào, khi mà trong lòng luôn mong muốn còn có nhau mãi mãi …

Nén tâm hương này, gởi Hội, nhân ngày giỗ tới, 13/10/2011.

Thanh Quế



9 Comments
thunhan wrote today at 4:09 AM, edited today at 8:43 PM
Chị,
EM rời VK sớm quá nên không có nhiều kỉ niệm với Hội như chị và các bạn.
Nhưng với em, Hội vẫn mãi là người bạn tốt với nụ cười hiền muôn thuở.
Mà người hiền, phải chăng thường chịu nhiều thiệt thòi?
Trong tình thương yêu của chúng ta, Hội mãi mãi như ngày xưa, chị nhỉ?
quenguyenthanh wrote today at 4:18 AM
Chị nghĩ rằng chằng ai đã từng sống gần Hội mà ko thương nhớ bạn ấy. Chị cũng nghĩ rằng chúng mình đang nối tiếp theo bạn ấy, đang cùng mang tới cho nhau những trái tim đặc biệt yêu thương bè bạn ...
walkinclouds wrote today at 4:27 AM
xin phép chị cho Walk góp lời và thắp nén hương tưởng niệm vong linh của anh Hội. Walk cũng biết anh Hội và chị Hải, cả 2 vợ chồng rất hiền và sống rất có nghĩa tình đạo lý. Hình như là người hiền thì trời phật hay rước đi sớm hay sao ấy. Ngày anh Hội ra đi, ai cũng bàng hoàng vì không ngờ anh ấy ra đi đột ngột và sớm như thế...
gioheomay wrote today at 4:42 AM
Chị khắc họa toàn bộ chân dung một anh Huỳnh Ngọc Hội mà em chưa hề gặp bao giờ mà thấy như gần gũi ..Gửi nén hương đến người Văn Khoa đặm đà chất Văn như người ta nói "Văn học là Nhân học" ... gửi nén hương đến người con , người chồng, người cha của gia đình anh và người bạn chí tình của các anh chị VK
quenguyenthanh wrote today at 5:23 AM
gửi nén hương đến người con , người chồng, người cha của gia đình anh và người bạn chí tình của các anh chị VK
Cảm ơn em nhé.
quenguyenthanh wrote today at 5:26 AM
Hình như là người hiền thì trời phật hay rước đi sớm
Chị cũng nghĩ vậy. Để bớt buồn thương bè bạn. Rất vui được Walk đến nhà và chia sẻ. Vậy chúng ta cùng là bạn của Hội ...
minhtmap wrote today at 8:14 AM
Em nghe tiếng Anh Hùynh Ngọc Hội vì cũng là dân công tác Đòan, chỉ là "văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình" Chị Ba à...
Nhiều khi nhớ và tiếc, biết đâu thế hệ "xuống đường" này cầm cân nảy mực thì đất nước đâu đến nỗi bê trễ thế này... hic!
Em cũng kính gởi một nén tâm nhang... chia sẻ niềm hòai nhớ của Các Anh Chị về Một Người Rất Tốt!
giaminh03 wrote today at 10:53 AM
Hình như là người hiền thì trời phật hay rước đi sớm hay sao ấy.
Hồi đó để an ủi bác gái, bọn mình đã nói với bác giống như bạn nói vậy: "Hội là con của Bác nhưng là người của Trời Phật sai xuống trần, bây giờ chắc đã xong việc rồi thì kêu về thôi, bác bớt buồn cho Hội ở trên đó nhẹ nhàng...."
giaminh03 wrote today at 10:56 AM
Chị nghĩ rằng chằng ai đã từng sống gần Hội mà ko thương nhớ bạn ấy.
Vì Hội sống rất tình nghĩa phải không chị! Chị nói rất đúng, Hội là người kết nối các thế hệ VK lại với nhau.



Đọc tiếp ...